rao vat mien phi

TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Tình hình chính trị thời nhà Nguyễn In
Image

Tình hình chính trị thời nhà Nguyễn

1. Thiết lập và củng cố nhà nước phong kiến chuyên chế

- Tổ chức bộ máy nhà nước.

Dưới thời Gia Long (1802-1819), tổ chức bộ máy nhà nước được chấn chỉnh dần nhằm xây dựng một thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế. Bộ máy chính quyền trung ương (triều đình) do vua đứng đầu, nắm toàn quyền quyết định mọi công việc lớn của đất nước. Dưới vua có 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công). Đứng đầu mỗi bộ là thượng thư , giúp việc cho thượng thư có các quan chức tả hữu tham tri, tả hữu thị lang . Mỗi bộ theo phạm vi công việc mà chia thành các ty chuyên trách.

Giúp việc cho sáu bộ còn có bốn tự là: Thái thường tự, Hồng lô tự, Thái bộ tự, Quang lộc tự, đứng đầu tự là một tự khanh và một thiếu khanh giúp việc, ngoài ra một số nhân viên thư lại. Bên cạnh Thị thư viện có Hàn lâm viện. Ngoài ra trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long còn có một số cơ quan sự vụ, chuyên môn như Nội tào, Ty thông chính, Quốc tử giám, Thái y viện, Tào chính, Hành nhân, Vũ khố, Khâm thiên giám, Tư tế ty, Tượng y viện.

Thị thư viện có nhiệm vụ giúp nhà vua thảo các chiếu, chỉ, sắc, dụ gửi cho các quan lại. Hàn lâm viện phụ trách công việc biên soạn sách phục vụ cho việc học tập, giúp vua thảo các sách, mệnh chỉ, chế, cáo. Quốc tử giám là cơ quan giáo dục cao nhất của nhà nước có nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức học tập, thi cử, có tài liệu cho rằng để tập trung quyền lực độc tôn vào hoàng đế, Gia Long đặt ra lệ "bôn không": trong triều không đặt chức tể tướng, thi đình không lấy trạng nguyên, trong cung không lập hoàng hậu, không phong tước vương cho hoàng thân. Các chức tứ trụ, tam thái, tam thiếu là những trọng chức có quyền lực lớn ở những triều đại trước thì dưới thời Gia Long chỉ còn là những vinh hàm gia phong cho công thần mà không có thực quyền. Gia Long tăng cường các tổ chức giám sát, kiểm tra của nhà nước đối với các quan lại và các tổ chức hành chính trong triều đình và các địa phương, đó là lục khoa và giám sát ngự sử ở các đạo. Lục khoa gồm Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hìnhkhoa, Công khoa. Những khoa này đã có từ thời Lê Thánh Tông (1476), đến thời Gia Long được khôi phục lại và cho lệ thuộc trực tiếp vào Đô sát viện do các quan chức tả, hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô ngự sử phụ trách, có nhiệm vụ kiểm soát mọi hoạt động của bộ máy hành chính ở trung ương và các địa phương. Dưới thời Gia Long, các đơn vị hành chính trong cả nước được chia thành nhiều khu vực có tên gọi rất khác nhau: Kinh đô gọi là dinh Quảng Đức (trước đó là phủ Triệu Phong xứ Thuận Hoá, năm 1822 đổi thành phủ Thừa Thiên gồm ba huyện Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang). Từ Thanh Hoá trở ra Bắc gọi là Bắc thành gồm 11 trấn (năm nội trấn là Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ - Sơn Tây, Hải Dương, Kinh Bắc và sáu ngoại trấn là Tuyên Quang, Hưng Hoá, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên). Từ Bình Định trở vào Nam gọi là Gia Định trấn (đến năm 1808 đổi là Gia Định thành) cai quản năm trấn là Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thành, Vĩnh Tường, Hà Tiên. Bắc thành và Gia Định thành là hai đơn vị hành chính địa phương lớn nhất trực thuộc trung ương, có đầy đủ bộ máy cai trị như một triều đình thu nhỏ. Từ Bình Thuận ra đến Thanh Hoá chia làm bảy trấn là Bình Thuận, Bình Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nghĩa, Nghệ An, Thanh Hoá. Đất kinh kỳ quản lý trực tiếp bốn doanh (Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam). Đứng đầu Bắc thành và Gia Định thành là một viên tổng trấn và một viên phó tổng trấn trông coi mọi việc. Các trấn có một viên trấn thủ hay lưu trấn đứng đầu. Giúp việc cho viên trấn thủ là cai bạ ký lục . Dưới trấn là các đơn vị phủ do tri phủ đứng đầu, huyện do tri huyện cai quản, châu thì do tri châu phụ trách. Dưới huyện là cấp tổng có cai tổng đứng đầu, xã có lý trưởng phó lý phụ trách.

Dưới triều vua Minh Mệnh, tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến các địa phương lại còn chặt chẽ hơn, hoàn chỉnh hơn nữa. Thời gian đầu mới lên ngôi, Minh Mệnh còn giữ nguyên tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long. Sau đó, cùng với việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị hành chính địa phương trong cả nước, Minh Mệnh đã thực hiện những cải cách trong việc tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Vua nắm giữ mọi quyền hành. Giúp việc và làm tham mưu cho nhà vua có một số cơ quan như:

- Nội các . Thời Gia Long gọi là Thị thư viện, chuyên phụ trách công việc văn thư. Năm 1820, Minh Mệnh đổi gọi là Văn thư phòng. Năm 1829, đổi Văn thư phòng thành Nội các. Nội các của nhà Nguyễn thực ra là phỏng theo quy chế Nội các thời Minh, Thanh (ở Trung Quốc), nhưng có điểm khác về mặt quyền hành của cơ quan này. Thời Minh, Thanh, Nội các là cơ quan có quyền lực lớn đứng trên các bộ. Phẩm hàm của các quan đứng đầu Nội các là chánh nhất phẩm, còn dưới triều Minh Mệnh, các quan đứng đầu cơ quan này chỉ có hàm tam phẩm, tứ phẩm. Nội các lại gồm có 4 tào (Thưởng bảo, Ký chú, Đồ thư, Biểu bạ).

- Cơ mật viện . Năm 1834 đặt cơ mật viện, cơ quan trọng yếu bên cạnh nhà vua. Minh Mệnh phỏng theo tổ chức Khu mật viện của nhà Tống và Quân cơ xử của nhà Thanh. Đứng đầu cơ quan này có 4 quan đại thần do vua lựa chọn từ các quan văn, võ từ tam phẩm trở lên. Viện cơ mật có nhiệm vụ giúp vua giải quyết các công việc "quân quốc trọng sự", làm tư vấn cho nhà vua nắm chắc lục bộ và các địa phương trong toàn quốc. Viện cơ mật có 2 ban: Nam chương Kinh phụ trách những công việc có liên quan từ Quảng Bình trở vào Nam và các nước ngoài về phía Nam và Bắc chương Kinh phụ trách những công việc có liên quan từ Hà Tĩnh trở ra và các nước ngoài về phía Bắc.

- Đô sát viện . Tháng 9-1832, Minh Mệnh lập ra Đô sát viện. Nhiệm vụ của Đô sát viện là giám sát hoạt động của các quan chức trong hệ thống cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương. Đây là một cơ quan hoạt động độc lập không chịu sự kiểm soát của bất kỳ cơ quan nào ở triều đình ngoài nhà vua. Các quan chức của Đô sát viện có nhiệm vụ phối hợp với các giám sát ngự sử 16 đạo để hoạt động kiểm soát và kiểm tra công việc của bộ máy quan lại.

Từ thời Minh Mệnh về sau vẫn có đủ sáu bộ và sáu khoa. Sáu tự có nhiệm vụ giúp việc cho sáu bộ. Ngoài ra, còn có một số cơ quan chuyên môn như Quốc tử giám, Hàn lâm viện, Ty thông chính sứ, Bưu chính ty, Quang lộc tự, Tào chính ty, Tôn nhân phủ, Hà đê sứ, Doanh điền sứ. Cơ quan chỉ huy quân sự là Ngũ quân đô thống sứ.

Về cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương từ thời Minh Mệnh có nhiều thay đổi, nhằm củng cố chế độ quân chủ chuyên chế và quốc gia thống nhất. Các đơn vị hành chính cấp thành, trấn bị bãi bỏ, thống nhất tên gọi các đơn vị hành chính cấp trung gian trong cả nước là liên tỉnh và tỉnh, bãi bỏ cả tên gọi doanh ở miền Trung.

Năm 1831, Minh Mệnh chia các trấn trước đây thành 18 tỉnh. Năm 1832, tất cả các trấn, doanh còn lại ở miền Trung và miền Nam cũng được đổi thành tỉnh. Cả nước có 31 tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương. Hai tỉnh có địa dư gần nhau ghép lại thành một liên tỉnh do một viên tổng đốc cai quản (cá biệt cũng có trường hợp 3 tỉnh liên hợp như - liên tỉnh Sơn - Hưng - Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang). Dưới tỉnh là phủ rồi đến huyện (châu), tổng, xã Cả nước bấy giờ có 31 tỉnh, 89 phủ và phân phủ, 255 huyện và châu, 1742 tổng và 18.200 xã.

Có thể thấy bộ máy nhà nước ngày càng được củng cố chặt chẽ và hoàn thiện dưới thời vua Minh Mệnh qua cuộc cải cách hành chính và chính quyền từ trung ương đến địa phương vào những năm 1831-1832.

Thời Gia Long và những năm đầu thời Minh Mệnh, bộ máy chính quyền còn đơn giản và lỏng lẻo, tính chất phân quyền trong việc quản lý nhà nước khá rõ. Tầng lớp quan lại đứng đầu các cơ quan hành chính hầu hết xuất thân từ võ quan. Đây là một hạn chế lớn của bộ máy chính quyền thời Gia Long, đầu thời Minh Mệnh so với nhà nước Đại Việt thời Lý - Trần - Lê sơ. Sang thời Minh Mệnh những hạn chế đó đã được khắc phục dần.

Nguyên tắc bao trùm, chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thời Nguyễn là tập trung thống nhất quyền lực vào một cá nhân - Hoàng đế, tăng cường sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nước trung ương đối với tất cả các địa phương, quan lại các cấp. Trong thực tế, việc làm đó đã có tác dụng củng cố chế độ trung ương tập quyền, thúc đẩy bộ máy chính quyền các cấp hoạt động có hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, từ trong ý đồ, chủ trương và trong hiện thực, bộ máy nhà nước thời Nguyễn là một nhà nước quân chủ tập trung quan liêu chuyên chế nặng nề. Một nhà nước quân chủ chuyên chế như vậy lại ở trước ngưỡng cửa cuộc cách mạng công nghiệp và trong tình hình chủ nghĩa tư bản phương Tây đang chuẩn bị ráo riết xâm lược Việt Nam, thì không còn phù hợp với xu thế của thời đại, yêu cầu của lịch sử nước ta lúc bấy giờ hậu quả tất yếu là nhà nước mất lòng dân, không củng cố được khôi đoàn kết dân tộc, trở nên bảo thủ, trì trệ, kìm hãm sự phát triển của xã hội, tách rời với thế giới bên ngoài. Đây là mặt hạn chế cơ bản của nhà nước thời Nguyễn.

2. Pháp luật

Bước sang thế kỷ XIX, từ năm 1811, Gia Long sai đình thẩn biên soạn một bộ luật mới, lấy tên là Hoàng triều luật lệ , còn gọi là Quốc triều hình luật hay Bộ luật Gia Long . Bộ luật này được biên soạn trên cơ sở tham khảo bộ luật của nhà Thanh và Bộ luật Hồng Đức (thời Lê Thánh Tông). Bộ luật Gia Long được thi hành trong suốt các triều đại của nhà Nguyễn. Các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức... chỉ có bổ sung, thêm bớt một số điểm cụ thể vào các điều quy định. Bộ luật Gia Long được biên soạn từ năm 1811 đến năm 1815 mới hoàn thành, gồm 398 điều, chia làm 22 quyển. Các điều khoản luật được chia làm sáu loại, tương ứng với việc phân chia công việc của triều đình thành sáu ngành do sáu bộ phụ trách. Điều này cũng giống như bộ luật Hồng Đức.

Bộ luật Gia Long nói riêng và luật pháp thời Nguyễn nói chung thể hiện rất rõ ý đồ bảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua và đề cao địa vị của quan lại và gia trưởng, trừng trị tàn bạo những người chống đối. Trong 398 điều luật, có tới 166 điều về hình luật. Bộ luật có những điều quy định: "Phàm kẻ mưu phản và đại nghịch và những kẻ cùng mưu, không phân biệt thủ phạm hay tòng phạm đều lăng trì xử tử (róc thịt, phanh thây, tùng xẻo). Ông, cha, con, cháu, anh, em và những người ở cùng trong một nhà của chính phạm từ 16 tuổi trở lên bất luận đốc tật, phế tật đều chém. Con trai từ 15 tuổi trở xuống, mẹ, con gái, chị em gái, vợ của con trai đem cấp cho nhà công thần làm nô tỳ. Tài sản của chính phạm bị tịch thu" (điều luật 223).

Bộ luật Gia Long và luật pháp thời Nguyễn thể hiện tính chất chuyên chế cực đoan đối với nhân dân. Một số điều khoản tích cực và tiến bộ của Bộ lũy luật Hồng Đức không còn được giữ lại trong Bộ luật Gia Long. Bộ luật Gia Long về cơ bản sao chép lại bộ luật của nhà Thanh (Trung Quốc), kể cả những chú thích các điều luật. Nhà luật học Vũ Văn Mậu viết: "Về hình thức, bộ Hoàng triều luật lệ so với bộ luật nhà Thanh, chép gần đúng toàn thể nguyên văn, chỉ có loại bỏ một vài điều lệ. Cách bố cục giống hệt, không có gì thay đổi, đến nỗi cách trình bày, tên gọi và phương diện ấn loát cũng không thay đổi. Bộ luật Gia Long mất hết cá tính một nền pháp chế Việt Nam. Bao nhiêu những sự tân kỳ, mới lạ trong bộ luật triều Lê sơ không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong bộ luật nhà Nguyễn".

Bộ luật của nhà Thanh là một bộ luật mang tính phản dân tộc sâu sắc, nhằm đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc chống lại nền thống trị của ngoại tộc đồi với đất nước Trung Hoa. Bởi lẽ đó, thực dân Pháp sau khi đã đặt được ách đô hộ ở Việt Nam cho đến khi chúng ban hành bộ luật thực dân - phong kiến, đã duy trì và áp dụng Bộ luật Gia Long ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

3. Tổ chức quân dội, quốc phòng

Dưới triều Nguyễn, về mặt tổ chức quân đội, trên hết có 5 phủ đô đốc chỉ huy 5 quân (trung quân, tiền quân, hậu quân, tả quân, hữu quân). Đứng đầu mỗi phủ đô đốc có chức đô thống chưởng phủ sự, rồi đến các chức thống chê, chưởng vệ. Năm phủ đô đốc đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của nhà vua. Vua nắm quyền quyết định tối hậu về việc điều động và di chuyển quân đội.

Quân đội được chia làm 3 loại: thân binh, cấm binh, tinh binh. Thân binh có nhiệm vụ bảo vệ nhà vua. Cấm binh bảo vệ hoàng thành, tinh binh bao gồm cả bộ binh, thuỷ binh, tượng binh.

Theo Sênh (Chaigneau) và Baridi (Barisy), hai người đã từng ở Việt Nam thời bấy giờ thì bộ binh thời Nguyễn có 11.500 người, thuỷ binh có 17.600 người và 200 chiến hạm, 500 chiến thuyền, tượng binh có 8.000 người và 200 thớt voi. Theo binh chế thời Nguyễn thì vùng đất từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ ba tráng đinh tuyển một người làm lính. Từ Biên Hoà trở vào cứ năm đinh tuyển một lính. Từ Hà Tĩnh trở ra Bắc thì cứ bảy đinh tuyển một lính. Quân đội tổ chức theo các đơn vị vệ, cơ. Thân binh mỗi vệ có 500 người và 50 quân nhạc. Ở trấn thì có lính cơ, lính mộ. Binh lính chia làm ba phiên thay nhau thường trực.

Sang thời Minh Mệnh, quân đội gồm có bốn binh chủng: bộ binh, thuỷ binh, pháo binh, tượng binh. Tuy nhiên, pháo binh và tượng binh còn là binh chủng phụ thuộc, chưa trở thành một binh chủng hoàn chỉnh và mạnh như bộ binh và thuỷ binh.

Bộ binh gồm có hai kinh binh, cơ binh chia làm các doanh, mỗi doanh có 2.500 người, vệ (500 người), đội (50 người), thập (10 người) và ngũ (năm người). Kinh binh do thống chế chỉ huy. Mỗi vệ có hai khẩu thần công, 200 súng điểm thương và 21 lá cờ. Cơ binh là lính đóng ở các tỉnh do các lãnh binh, chánh và phó quản cơ chỉ huy. Mỗi cơ có 10 đội được chia thành năm thập và 10 ngũ.

Tượng binh chia thành đội, mỗi đội có 40 thớt voi. Ở kinh đô có 150 thớt voi. Tổng số voi có 500 thớt.

Thuỷ binh chia làm ba doanh, có 15 vệ. Tổng chỉ huy là thuỷ sư đô đốc thống. Doanh thì do đô thống và vệ do chưởng vệ chỉ huy.

Trên các binh chủng này có bốn quan đô thống chỉ huy. Đứng đầu 4 đô thống là Đô thống trung quân.

Quân đội thời Nguyễn có tổ chức chặt chẽ, có quy củ, từng bước đi vào chính quy hoá từ tổ chức đến trang bị, là một đội quân khá mạnh ở vùng Đông Nam Á bấy giờ. Thế nhưng, quân đội đó đã không bảo vệ được nền độc lập của đất nước trước cuộc xâm lược của tư bản Pháp. Nguyên nhân thất bại không phải do tổ chức, trang bị, lực lượng yếu kém mà bởi những nguyên nhân khác, trong đó nguyên nhân cơ bản là do đường lối đánh giặc giữ nước sai lầm của vua quan triều Nguyễn ở nửa cuối thế kỷ XIX.

 

Nguồn: Lương Ninh 2000, Chương XI – Triều Nguyễn và xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX), Lịch sử Việt Nam giản yếu, Hà Nội, Chính trị Quốc gia, Tr. 299-318.

 

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép