TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Kỳ 8 đến kỳ cuối In

Kỳ 8: Tranh đấu trong rừng già

 

Ảnh chụp tại Guyane trong lễ kỷ niệm 13 năm ngày quốc khánh 2-9, do cựu tù nhân Nguyễn Đắc Bằng gửi cho Lương Duyên Hồi. đằng sau tấm ảnh có dòng chữ viết tay: "Tôi thay mặt Việt kiều đọc diễn văn chào mừng các đại diện cơ quan, đoàn thể và chính đảng địa phương đến dự lễ kỷ niệm"

TT - (Trích hồi ký Lương Duyên Hồi)
Rồi sóng biển Đại Tây Dương dịu lại, lộ rõ màu đất nước với cỏ cây. Thủ phủ Cayenne của Guyane thuộc Pháp đã hiện ra trước mặt mọi người. Tàu cập bến, ba tên đội mặt đen, răng và mắt trắng dã ra hiệu tay chỉ trỏ để anh em lên. Lên hết rồi, chúng xếp vào hàng năm người một, cho lính đen đi kèm dẫn về trại giam đã bố trí sẵn trong thủ đô Cayenne.

 

Đấu tranh phủ đầu

Anh em nhiều người bỡ ngỡ, vào trại rồi còn đứng lại nhìn, một bạn tù bị tên đội xếp đen tát cho một cái điếng người. Thái độ tàn nhẫn ấy đã gây nên một làn sóng căm phẫn trong anh em bạn tù, đều đồng thanh nhao nhao phản đối: "Nếu không đuổi tên đội xếp này đi, chúng ta sẽ bãi thực để phản đối lại". Sau tên toàn quyền Guyane buộc phải can thiệp khéo, đổi tên đội xếp kia đi, bầu không khí căng thẳng trong anh em mới được trở lại bình thường.

Nhà tù Guyane trong các đô thị như Cayenne, Xanh-lô-răng, Xanh-giăng… để nhốt những tù Âu Phi và tù ta đày sang ba chuyến trước. Chuyến chúng tôi có lẽ do cao trào cách mạng 1930-1931 có tầm quan trọng hơn, cũng như có nhiều người Đông Dương hơn, cho nên chúng bố trí vào khu vực riêng biệt trong rừng rú (Y-ni-ni) thuộc khu rừng của Guyane, chúng không cho chúng tôi gần gũi với tù Âu Phi và tù người Việt sang trước.

Đáng lẽ ra anh em chúng tôi còn được nghỉ lại Cayenne một thời gian nữa chúng mới phân bố đi đến chỗ ở nhất định. Nhưng vì mới bước chân lên đất, chúng tôi đã tổ chức đấu tranh phủ đầu ngay thì chúng lấy làm hoảng sợ sự đoàn kết đấu tranh của anh em lắm, cho nên mặc dù là nơi ở nhất định chưa chuẩn bị kịp, chúng đã vội chia rẽ lực lượng đoàn kết của anh em bằng cách chuyển 200 anh em (trong đó có bạn Bùi Hữu Diên và tôi, còn bạn Trần Văn Ngọ ở lại) đi Phô-rét-che, là một khu vực riêng biệt ở phía tây Guyane. Còn hơn 300 anh em tù các loại (thường phạm) còn ở lại Cayenne một thời gian, rồi chúng cho chuyển đi Kích-ăng-ghi, gần Cayenne hơn so với chỗ chúng tôi.

 

Ảnh chụp tại Guyane vào ngày 22-12-1958 do cựu tù nhân Nguyễn Đắc Bằng gửi cho ông Lương Duyên Hồi. đằng sau tấm ảnh ghi: "Anh chị em ký quyết nghị phản đối vụ thảm sát Phú Lợi, tôi ngồi giữa, vợ chồng Ký Ngữ ngồi hai bên"

Vì chuẩn bị chỗ ở chưa kịp, trên đường đi Phô-rét-che, chúng tạm cho anh em vào Xanh-lô-răng nghỉ mấy tuần. Trong lúc này, bạn Diên thấy có hoàn cảnh mới đề ra việc viết báo Nhân Hòa để giáo dục anh em.

Trên phi lộ của Nhân Hòa có đoạn viết: "Nhân Hòa ra đời kêu gọi tất cả anh em bạn tù chúng ta bị đọa đày sang xứ này, dù là chính trị phạm hay thường phạm, là người theo chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa xã hội có khác nhau, nhưng tất cả chúng ta đều bị bọn thực dân Pháp áp bức và bạc đãi. Vậy chúng ta phải đoàn kết lại, không thể vì tư hiềm, vì chính kiến có khác nhau mà chia lìa Nam Bắc, ngại bước đấu tranh để cho chúng khinh thường!"... Sau khi đến Phô-rét-che, bị hoàn cảnh ngặt nghèo hơn, tờ báo Nhân Hòa không còn tiếp tục ra mắt anh em nữa.

Tổ quốc - mãi mãi một con đường

Những dòng hồi ký của Lương Duyên Hồi do gia đình lưu giữ ngừng lại trước thời điểm năm 1938, là năm ông và những người bạn được ân xá sau khi Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm quyền. Nhưng Bùi Hữu Diên, bạn thân của Lương Duyên Hồi, đã không còn được chứng kiến ngày tự do, ông đã mất do ốm đau tại Guyane chỉ vài năm sau khi bị đi đày. Một số bạn tù đã quyết định ở lại Guyane. Tuy mỗi người một sự lựa chọn, những cựu tù VN cùng hướng về tình yêu lớn: Tổ quốc.

Ông Hồi tích cực hoạt động cách mạng sau khi về nước, ông tham gia phong trào mặt trận Việt Minh khởi nghĩa cướp chính quyền tại phủ lỵ Tiên Hưng, rồi trở thành ủy viên Huyện ủy Tiên Hưng (1948-1949), lãnh đạo chống càn tại địa phương (1950-1954), được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thái Bình đề cử và trúng cử đại biểu Quốc hội khóa II (1960-1964). Về hưu năm 1964, ông từ chối tiêu chuẩn căn nhà riêng được cấp ở thị xã Thái Bình, về quê sống giản dị và tiếp tục tham gia công tác mặt trận tại xã nhà (Hồng Việt) và bốn khóa ủy viên mặt trận huyện Đông Hưng. Ông qua đời năm 1986.

Gia đình ông Lương Duyên Hồi cho biết một người được thả về cùng với ông Hồi là Trần Văn Ngọ sau này trở thành phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Vĩnh Phú. Ở lại Guyane, một người bạn của ông Hồi là ông Nguyễn Đắc Bằng đã lập gia đình, sinh con đẻ cái với người bản xứ nhưng vẫn tiếp tục cùng với các cựu tù Việt Nam tổ chức và tham gia các hoạt động yêu nước. Căn cứ vào những tấm ảnh ông Nguyễn Đắc Bằng gửi tặng gia đình ông Hồi trong những năm 1960, những người Việt tại Guyane đã thành lập Hội liên hiệp Việt kiều, tổ chức kỷ niệm ngày Quốc khánh 2-9, ký quyết nghị phản đối vụ thảm sát Phú Lợi, đả đảo chính sách tàn bạo của Mỹ - Diệm... Gia đình hai người bạn Lương Duyên Hồi và Nguyễn Đắc Bằng thư từ qua lại cho nhau đến khoảng năm 1968-1969 thì chấm dứt do chiến tranh chống Mỹ.

Câu chuyện cuộc đời, quá trình đấu tranh cách mạng do Lương Duyên Hồi viết trong hồi ký cho thấy ông và những người bạn coi sự nghiệp chung là lẽ sống, nghĩ đến Tổ quốc trước khi nghĩ đến bản thân mình. Có lẽ bởi vậy mà con cháu ông còn nhớ mãi cách sống của ông: nghiêm khắc, liêm khiết, tiết kiệm, không ngừng học hỏi.

UYÊN LY

__________________________

Có một chí sĩ của phong trào Đông Du bị đày sang Guyane đã vượt ngục, trở về tiếp tục phong trào đấu tranh yêu nước.

*
* *

Kỳ 9: Một kiếp thề ghi với nước non

 

Ông Nguyễn Quang Diêu (họa sĩ Hà Khê vẽ theo tường thuật của môn sinh Nguyễn Chính Giáo)

TT - Trong cuốn Đông Kinh nghĩa thục, học giả Nguyễn Hiến Lê viết một đoạn ngắn nhưng có khả năng gây xúc động mạnh về ông Nguyễn Quang Diêu: "Người nghe nói có phong trào Đông Du thì hăm hở xuất dương, tới Hương Cảng bị Pháp bắt rồi đày đi Guyane ở Nam Mỹ.

 

Sau cụ Diêu trốn thoát, về Trung Hoa, rồi cả gan dám về ngay Cao Lãnh, tổ chức một đảng cách mạng. Việc thất bại, phải trốn lên dạy học ở một miền giáp ranh Miên - Việt. Về sức vùng vẫy và tính mạo hiểm của cụ, ít ai bì kịp". Lần theo lịch sử, ông Diêu quả là người như thế.

Chí tang bồng

Ông Nguyễn Quang Diêu sinh năm 1880 trong một gia đình khá giả lại có truyền thống Nho học ở Cao Lãnh (Đồng Tháp). Năm 6 tuổi, ông học vỡ lòng chữ Nho. Năm 10 tuổi học chữ quốc ngữ. Cụ thân sinh và các thầy dạy đều là người yêu nước. Được tiếp xúc với những người có chí khí, thương nòi yêu nước, ông Diêu sớm thấm thía được nỗi nhục mất nước của cả dân tộc, sớm mang lấy mộng dời non lấp bể vào mình. Ông ngày đêm đèn sách, nhưng cũng nhận ra việc theo đòi từ chương sẽ không cứu được nước. Tính tình sôi nổi và có phần nóng nảy, cậu Năm Diêu để tâm theo dõi thời cuộc để tìm một con đường mới.

Vừa khi ấy, phong trào Đông Du lan đến miền Nam.

Nguyễn Quang Diêu lập tức thâm nhiễm những tư tưởng và chủ trương của Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, và ngay lập tức đứng vào hàng ngũ những người đi tiên phong trên đường đấu tranh cứu nước. Có tài hùng biện và giao du rộng, việc đầu tiên của Năm Diêu là tham gia cùng với Nguyễn Thần Hiến vận động tài lực, vật lực ủng hộ phong trào Đông Du. Được nhiều người hưởng ứng, Năm Diêu càng hăng hái. Các buổi nhóm họp bí mật trong các đình chùa, các buổi vận động trong các cửa tiệm, các chợ không thỏa chí ông nữa, ông muốn xuất ngoại. Thân phụ đã đồng ý nhưng các đồng chí muốn giữ ông lại để thúc đẩy phong trào tại địa phương, ông sốt ruột thổ lộ trong một bài thơ tự thuật: Tuổi tác đã vừa ba chục chẵn/Công danh chưa có ít nhiều khi/Rừng cao yến đỗ nương nhờ chô/Gió thuận hồng mong gặp gỡ khi/Xem khắp thế tình rồi nghĩ nghị/ Muốn noi thánh trước cưỡi bè đi.

Cơ hội đến vào đầu năm 1913, Cường Để, một hậu duệ của hoàng tử Cảnh, về Nam bộ tìm cách khơi cho phong trào bùng nổ. Tài liệu của Nguyễn Văn Hầu tìm được cho biết: "Cuối tháng năm, sau khi giáp mặt cụ Cường Để tại một địa điểm bí mật ở Long Xuyên, một nhóm cán bộ trong đó có Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu Thuật chỉ định ngay một phái đoàn sang Trung Hoa với mục đích lãnh "chỉ lệ tín phiếu", mua vũ khí, đưa thêm học sinh đi du học và tìm gặp cụ Nguyễn Thần Hiến. Phái đoàn khởi hành trong tháng ấy, gồm mười người lớn và hai thiếu niên. Nguyễn Quang Diêu được cử làm lãnh đạo". Luôn bị lính kín Tây theo dõi sát sao, không thể về từ biệt gia đình, Năm Diêu tìm cách gửi về cho vợ mấy vần thơ mang tâm nguyện: Trăm năm ngồi đứng trong trời đất/Một kiếp thề ghi với nước non/Ai ôi hãy nếm mùi ly biệt/Có nếm ra rồi mới biết ngon.

Đến Hong Kong, cả đoàn dành mấy ngày cho việc bàn định quốc sự với Nguyễn Thần Hiến và Huỳnh Hưng. Mấy ngày sau mua được một ít tạc đạn, đoàn người dự định chia làm hai: một tốp đi Hàng Châu để hội kiến các lãnh tụ cách mạng, một tốp chờ tàu để mang tạc đạn và tín phiếu về Sài Gòn. Chưa kịp lên đường thì cảnh sát Anh bao vây nhà Huỳnh Hưng, tất cả bị bắt.

Tìm phương về nước

 

Ảnh chụp trong những năm 1960 tại Guyane, cựu tù nhân Nguyễn Đắc Bằng ghi sau tấm ảnh: "Tôi cùng thanh niên địa phương đứng trước Việt Nam khách sạn tại Guyane"

Ra tòa của Anh ở Hong Kong, bị trục xuất, áp giải về nhà lao Hỏa Lò ở Hà Nội. Năm 1913, khởi nghĩa Yên Thế kết thúc, Pháp tăng cường đàn áp, bắt bớ, Hỏa Lò chật những người yêu nước. Năm 1914, cùng với các đồng chí, Nguyễn Quang Diêu bị kết án 10 năm khổ sai và bị đày đi Guyane. Qua muôn trùng sóng gió, đặt chân lên xứ sở xa lạ, ông cảm tác thành thơ: Bể rộng mênh mông dòng nước biển/Nội bằng mờ mịt mạn rừng xanh/Dã man thảm hại cho người đo/Tân khổ nài bao cái lũ mình.

Những ngày tháng dài nhọc nhằn, thỉnh thoảng niềm hi vọng lại lóe sáng lên cùng những tin tức bạn tù nghe ngóng được mang về. Nhưng vận hội chưa tới, những tin tức lạc quan ấy mau chóng vỡ tan như bong bóng. Cố quốc vẫn cứ mù xa mà lòng yêu nước trong các bậc chí sĩ ngày một thêm cháy bỏng. Mọi người bàn nhau tìm cách vượt ngục.

Trong nhóm có Lý Liễu thông minh, tháo vát, lại biết tiếng Anh, tiếng Pháp nên được cai tù vị nể cho đi lại tự do, làm nhiệm vụ quản lý nhà lao An Nam. Ông nhân đó tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của một số kiều dân người Hoa, tổ chức những cuộc vượt ngục đơn lẻ vài người một bằng cách gửi bạn tù xuống thuyền đánh cá của thổ dân, giong buồm sang đảo Trinidad. Nguyễn Quang Diêu hăng hái làm người tiên phong đi chuyến đầu tiên.

Lần lượt từng người một đến đảo và tìm kế sinh nhai dưới vỏ bọc người Hoa, cuộc sống dần ổn định. Lý Liễu còn lấy được vợ Anh và sinh được hai con. Tình hình cách mạng ở VN vẫn cứ mãi im hơi lặng tiếng, mọi người họp nhau lại, Năm Diêu đưa ý kiến: "Chúng ta vượt ngục sang đây, nay thể chất được sung túc mà tâm hồn thì quằn quại khổ đau không hơn gì ở Guyane, phỏng có ích gì. Tôi đề nghị anh em tìm phương về nước".

Nói là làm, Nguyễn Quang Diêu lại là người ra đi đầu tiên. Năm 1920, ông đáp tàu vượt qua hai đại dương mênh mông về tới Trung Quốc, gia nhập ngay các nhóm đấu tranh yêu nước. Năm 1927, ông bí mật về nước, tiếp tục gây dựng cơ sở, sáng tác thơ văn ái quốc, mở trường học khai thông dân trí...

Ông được người dân, nhân sĩ địa phương kính phục và hết lòng che chở, bảo bọc. Những hoạt động chính trị và thơ văn yêu nước của Nguyễn Quang Diêu trong 10 năm hoạt động bí mật ở Nam bộ đã trở thành những pho sách để đời. Nhà cách mạng Duy Tân - Đông Du qua đời ngày 15-5 năm Bính Tý (1936), chưa kịp nhìn thấy những ngày rực rỡ của lịch sử VN. Câu thơ ông khóc Nguyễn Thần Hiến trong lao tù năm nào nay vận vào chính mình: Chín suối có thiêng hồn tổ quốc/Trăm năm còn tạc gánh tang bồng.

NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU

-------------------------------------

Nhiều người đã biết về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, nhưng ít ai biết rằng nhiều nghĩa quân của Đề Thám đã bị đày đi Guyane sau cuộc kháng chiến trường kỳ hơn một phần tư thế kỷ.

*
* *

Kỳ 10: Nghĩa quân Đề Thám đi đày ở Guyane

 

Anh hùng Đề Thám (chụp giữa năm 1898 và 1905)

TT - Đầu năm 1913, nghĩa quân Đề Thám bị bắt giam chật cứng Hỏa Lò Hà Nội. Đó là lúc lãnh tụ Hoàng Hoa Thám - mệnh danh Đề Thám - vừa bị tay sai thực dân Pháp ám hại hèn hạ trong rừng Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang đương thời.

 

Trong hơn một phần tư thế kỷ kháng chiến trường kỳ, Đề Thám đã lãnh đạo nghĩa quân, chỉ huy đánh Pháp nhiều trận ác liệt, tiêu biểu là các trận ở thung lũng Hố Chuối (12-1890) và Đồng Hom (2-1892). Pháp phải hai lần giảng hòa với Đề Thám vào năm 1894 và 1897.

Những năm 1898-1908, Đề Thám xây dựng Phồn Xương thành căn cứ kháng chiến vững mạnh. Đồng thời Đề Thám bí mật liên hệ với các lực lượng yêu nước ở ngoài Phồn Xương. Nhiều sĩ phu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên... đã hội kiến với Đề Thám và tìm cách phối hợp hành động.

 

Nghĩa quân Đề Thám bị bắt làm tù binh

Đầu năm 1909, Pháp mở cuộc tấn công qui mô lớn nhằm tiêu diệt nghĩa quân, vì Pháp căm phẫn nghĩa quân Đề Thám đã liều về Hà Nội đánh thuốc độc quân nhân Pháp và mưu tính chiếm cứ thủ phủ thực dân. Đề Thám vừa tổ chức đánh trả, vừa phải rút lui khỏi Yên Thế, di chuyển lên Thái Nguyên, Tam Đảo. Lực lượng nghĩa quân suy giảm dần và tới cuối năm 1909 thì tan rã. Đề Thám phải sống ẩn náu trong rừng Yên Thế, rồi bị tay sai của Pháp sát hại ngày 10-2-1913.

Từ 1909-1913, Pháp bắt bớ được nhiều nghĩa quân, kể cả cán bộ chỉ huy và thành viên gia đình Đề Thám. Pháp không phân biệt tù binh hay hàng binh mà đem nhốt chung vào nhà pha Hà Nội, rồi đưa ra xử cho có hình thức pháp lý và đưa sang đày tại Guyane.

Nhiều sách báo đã nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Đề Thám với những thông tin và hình ảnh khá phong phú. Tuy nhiên, còn cần thêm những thông tin để biết rõ thân phận các nghĩa quân bị lưu đày ở Guyane rồi một phần trở về đời sống thường nhật ra sao.

NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU

 

Tù binh Đề Thám tới hải cảng Alger

Nghĩa quân Đề Thám trên hải cảng Alger trước khi bị đưa đến Guyane

 

Một nghĩa quân trong nhóm Đề Thám bị hỏi cung

 

Những tấm ảnh này do ông Nguyễn Tấn Lộc, một người Việt sống tại Pháp, sưu tầm. Ông Lộc là người sưu tầm nhiều bức ảnh về quê hương, đất nước VN. Đặc biệt, mảng sưu tầm những bức ảnh về VN giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 của ông rất có giá trị.

--------------

Để việc khai thác tài nguyên thuận tiện hơn, một con đường đá dài 300km được xây bằng sức lực tù nhân. 500 mạng người đổi 8km đường. Tù nhân phải đãi cát tìm vàng...

*
* *

Kỳ 11: Con đường xương máu

 

Tù nhân bị bắt đi đào vàng ở Guyane. Ảnh của tạp chí France d outre Mer. Ảnh do ông Bùi Văn Toản, chủ biên nhóm nghiên cứu "Sử liệu Côn Đảo", cung cấp cho Tuổi Trẻ

TT - Tại Guy-An, Pháp dự định làm một con đường dài chừng 300km xuyên I-ni-ni nối liền khu La-Phô với Ăng-Ghi xuyên qua Xanh-Ti thẳng về Cay-En. Đây là con đường chiến lược và là con đường đá lớn thứ nhì ở Guy-An.

 

Có con đường này sẽ giúp việc khai thác tài nguyên các cánh rừng ở I-ni-ni tiện lợi hơn, các lâm đặc sản được vận chuyển ra tàu biển nhanh chóng hơn. Đặc biệt, nhờ con đường này mà các lực lượng vũ trang của Pháp khỏi lo bị bắt sống trọn ổ mỗi khi có chiến tranh.

500 mạng người đổi 8km đường

 

 

Bài này được trích từ sách Từ Yên Bái đến các ngục thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An của tác giả Hoàng Văn Đào, do NXB Sống Mới (Sài Gòn) ấn hành cuối năm 1957.

Cuốn sách này do ông Nguyễn Sinh Duy (Đà Nẵng) cung cấp cho Tuổi Trẻ sau khi đọc loạt bài "Nhà lao An Nam tại Guyane". Ông Duy cho biết ngay sau khi NXB Sống Mới phát hành cuốn sách này, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban lệnh thu hồi và tiêu hủy cuốn sách. "Là một người yêu sử nên tôi đã tìm mọi cách lùng mua. Cuối cùng tôi cũng sở hữu được cuốn tư liệu lịch sử quí hiếm này" - ông Duy nói.  

ĐẮNG NAM

Chính vì lẽ đó, chính quyền Pháp tại Guy-An đã huy động tất cả các sắc phạm nhân từ đen, trắng, đỏ, vàng tại bốn ngục thất bắt tay vào mở đường. Riêng số phạm nhân tại ngục thất Ăng-Ghi (dành riêng cho phạm nhân thuộc địa Đông Dương) được chia làm 12 kíp, mỗi kíp 50 người. Nhóm một gồm sáu kíp đầu bắt đầu từ hướng La-Phô, nhóm hai gồm sáu kíp còn lại bắt đầu từ bờ sông Sin-Na-Ma-Ri. Cả hai nhóm sẽ gặp nhau trên bờ sông Ma-Ra để cùng kiến thiết cây cầu cuối cùng của tuyến đường.

Mỗi phạm nhân được phát cho một dụng cụ lao động để mở đường. Cứ thế kẻ phát cỏ, cưa gỗ, người cuốc đất phá đá, những mét đường đầu tiên bắt đầu hé lộ. Nhưng vì gai góc quá nhiều, khí hậu lại ẩm thấp, lương thực chỉ là cơm nắm ăn với lá chua, trái đắng rừng... nên chẳng bao lâu đã có vài người bắt đầu gục ngã. Người sình bụng lên như cái trống. Chỉ cần thế, đám lính Pháp lập tức ném xuống sông làm mồi cho cá sấu.

Để khủng bố tinh thần, bọn lính da đen còn dùng lưỡi lê đâm xuyên qua bụng những người bị ốm không làm được việc một cách tận lực rồi dìm xuống suối cho cá sấu, lươn điện (một loại lươn phóng ra điện) ăn, rỉa. Trong quá trình lao động khổ sai, không ít người đã bỏ mạng giữa rừng sâu vì bị rắn độc cắn, cọp, beo vồ ăn thịt mất xác.

Công việc đang tiến hành thì phát sinh một bệnh dịch kỳ quái. Trước hết người bệnh bị nóng hầm, mắt đỏ ngầu, sau đó đi tiểu ra nước đỏ như máu. Bệnh dịch không trừ một ai từ phạm nhân da màu đến lính Pháp da trắng. Cứ thế ngày nào cũng có canô chở xác phạm nhân và lính về Cay-En. Một bác sĩ đã được phái đến tìm hiểu bệnh tình nhưng rồi cũng đành bó tay.

Thời gian trôi qua, vì dịch bệnh mà chẳng mấy chốc người vơi đi trông thấy. Đầu năm 1938, khi viên toàn quyền mới của Guy-An tên Masson de Saint Félix nhận thấy số phạm nhân bị sút mất quá nhiều, nhất là số lính trông coi phạm nhân, nên ông ra lệnh đình chỉ việc phá rừng mở con đường nói trên. Tính ra con đường ấy mới làm xong chưa đầy 8km nhưng số phạm nhân bỏ mạng lên đến gần 500 người.

"Khẩu hiệu của ngục thất Guy-An là phải làm cho phạm nhân biết làm việc bằng chân tay, làm việc cho mệt nhừ, cho ê ẩm thân xác. Có như thế, chúng mới im cái mồm nói chính trị, xúi giục dân chúng làm loạn" - một tên lính da đen rạch mặt đã nói với chúng tôi như vậy.

Đi đào vàng

Vàng, vàng ở trong nước suối, vàng lẫn vào cát ở hai bên bãi con sông, vàng chìm trong đất sỏi ở các đồi cao, ở khe đá. Vàng ở khắp nơi I-ni-ni, Guy-An. Vào thời ấy, từng đoàn người dân xứ Guy-An đã lần ngược theo các con sông Ma-rô-ni, Ma-Na, Approvagne, Oyapek để đãi cát tìm cho bằng được thứ kim loại ấy. Lợi nhuận kếch sù từ vàng đã hối thúc viên toàn quyền Guy-An hạ lệnh cho Chúa ngục bắt tất cả phạm nhân phải đi đãi cát tìm vàng.

Nhưng nước suối lạnh như băng giá, tất cả mọi người phải đứng ngâm nửa thân mình dưới nước. Ngày nào cũng từ sáng đến tối và chỉ được nghỉ 15 phút vào hồi 12 giờ trưa để ăn cơm mà thôi. Trên đầu, từng đàn mòng xanh, mòng đỏ, mòng vàng bay như ong vỡ tổ, chỉ cần chờ cơ hội là xông xuống ghim vào đầu, vào cổ mọi người để hút máu.

Ngoài lũ mòng hút máu thì giống muỗi vàng cũng là nỗi ám ảnh kinh hoàng của các phạm nhân xứ Đông Dương. Chỉ cần 20 giây, nếu không cử động, lập tức những cánh tay dùng để đãi vàng sẽ nhuốm một màu vàng của muỗi. Đến nước đó chỉ còn cách dìm mình xuống dòng suối mới mong thoát khỏi nạn ruồi vàng. Cứ làm việc ròng rã như thế suốt đúng một tuần lễ thì có đoàn người khác đến thay.

Chúng tôi được phép nghỉ xả hơi hai tuần nhưng không quên đem vàng về cống nạp cho chúa ngục. Cứ thế mỗi tuần chúng gửi về chính quốc 50-60kg vàng do phạm nhân kiếm được. Cứ mỗi ngày, mỗi phạm nhân mang về một gram vàng cống nộp thì sẽ thoát khỏi mười hèo mây quất túi bụi vào đầu, cổ. Còn nếu không sẽ bị chúa ngục xua chó béc-giê cắn đến tử thương. Xác phạm nhân chết chúng đem ra làm mồi nhử cọp hoặc cá sấu để bắt lấy da đem bán nhằm bù vào số tiền thiếu hụt của chúng. Với chúng, "không lấy được vàng thì da cọp vậy".

Trước cảnh tàn bạo dã man ấy, chúng tôi nhiều lần bàn tính với nhau tìm biện pháp thoát khỏi tai nạn đãi cát tìm vàng. Và rồi, trong một lần ngồi quan sát lũ chim bồ câu, một người trong hội đã phát hiện loài chim này thường xuyên ăn những vật dụng có màu sáng tựa mạt vàng. Lập tức chiêu thức "tìm vàng bằng chim bồ câu" đã được tính đến. Một kế hoạch huấn luyện lũ chim bồ câu tìm vàng thay người đã được vạch ra. Theo đó, chúng tôi lén lút lấy 150 gram vàng đãi được dụ mua một đôi chim bồ câu từ một tên giám thị Pháp - chủ nhân của 50 con chim bồ câu. Dần dần hắn ta đồng ý cho chúng tôi toàn quyền sử dụng lũ chim. Có chim, cả nhóm bắt tay vào việc.

Trước tiên là đi lượm lặt sái thuốc phiện của các quan Pháp vứt, đem về nấu thành nước rồi trộn lẫn với gạo sau đó cho lũ chim ăn. Dần dần chim quen hơi. Cứ thế sau một ngày đi kiếm ăn trên khắp các bãi vàng, đúng 5 giờ chiều khi tiếng kẻng nhà tù vang lên, lập tức lũ chim tụ bay về không thiếu một con. Phân chim được thu dọn kỹ càng, sau đó đem ra ngâm nước đãi lọc lấy vàng. Nhưng rồi số vàng mà lũ chim đem về vẫn kém nên con người vẫn phải tiếp tục đi đãi vàng. Nhưng dù sao lũ chim cũng đã làm giúp bớt một phần việc nặng nhọc cho chúng tôi.

HOÀNG VĂN ĐÀO

_________________________

Cuối năm 1934 đầu 1935, toàn thể phạm nhân người Việt đã tuyệt thực kéo dài hơn một tháng. Tất cả anh em đều giữ vững tinh thần cách mạng.

*
* *

Kỳ 12: Tuyệt thực để tranh đấu

 

Ảnh chụp những người Việt và gia đình tại Guyane năm 1958 trong lễ kỷ niệm Quốc khánh 2-9

TT - Chủ trương của thực dân Pháp ở xứ Guy-An là phải giữ lại tất cả những phạm nhân bị lưu đày trong xứ để có công nhân khai thác thuộc địa Guy-An, dù đó là phạm nhân đã được ân xá hay mãn hạn tù đày. Bởi vậy một số phạm nhân người Việt dù được ân xá ra khỏi khám đường nhưng vẫn bị bắt buộc ở trên phần đất Guy-An để lập gia đình sinh sống đồng hóa với dân bản xứ. Trên thực tế con số ấy không ít.

Phải trả lại tù nhân cho Việt Nam

Quá phẫn uất, cuối năm 1934 đầu năm 1935, toàn thể phạm nhân người Việt đã tổ chức một cuộc tuyệt thực kéo dài hơn một tháng để phản đối nhà cầm quyền Pháp yêu cầu phải trả lại những người Việt đã mãn án tù đày để họ được trở về bản xứ. Sở dĩ cuộc tuyệt thực kéo dài là nhờ chúng tôi dự trữ được một phần lương thực.

 

Trước đó, trong những ngày bị giam cầm ở ngục thất Ăng-Ghi, dù hoàn cảnh vô cùng đau thương, tột bậc, nhưng tất cả anh em vẫn giữ vững tinh thần cách mạng. Mỗi buổi tối, mọi người ở các lao tù đều tổ chức nói chuyện, tranh luận về các vấn đề chính trị, học tập thêm văn hóa, tu dưỡng đạo đức, giữ vững tinh thần. Mọi sinh hoạt trong nhà lao đều được phân công trách nhiệm rõ ràng. Dần dần những hình ảnh ấy đã lấy được cảm tình của lính cai ngục.

Ngay sau đó Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp lên nắm quyền đã ân xá và giảm án cho một số phạm nhân, đồng thời cho phép họ được trở về Đông Dương. Đầu năm 1935, hơn 30 anh em vừa tù chính trị, vừa thường phạm được đáp tàu trở về xứ sở. Tiếp đến trong các năm từ 1936-1938, triều đình Huế liên tục gửi thư đòi Chính phủ Pháp phải trả lại cho Việt Nam những phạm nhân đã mãn hạn tù hoặc đã được ân xá. Nhưng rồi Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ đã khiến đường về quê mẹ của nhiều người con đất Việt trở nên xa mù hơn.

Dù nhiều lần tranh đấu đòi được trở về nước, thế nhưng trên thực tế số người Việt được đáp tàu trở về xứ sở chiếm không bao nhiêu. Phần lớn họ phải tiếp tục lao động khổ sai trong sâu thẳm những cánh rừng già để khai thác gỗ quí hay đi đào vàng, kim cương. Không chịu nổi sự khổ ải tù đày, nhiều người trong số đó đã nung nấu ý chí vượt ngục.

Những cuộc vượt ngục

Một đêm tối trời vào cuối mùa thu năm 1940, hai chiến sĩ cách mạng Việt Nam tên là H. và C. vượt ngục, đi sâu vào rừng thẳm. Ngày đi đêm nghỉ, hai người cứ thế cắt rừng già mà đi. Mọi việc đều suôn sẻ. Nhưng sang ngày thứ 11 thì cả hai bị lạc giữa khu rừng già, không hề tìm được hướng đi. Đúng lúc ấy thì C. lên cơn sốt cực độ. Đến lúc bệnh tình của C. thuyên giảm, cả hai tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng khi vừa đặt chân lên đất Hà Lan (thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ) thì bất ngờ cảnh sát xuất hiện.

Không giấy tờ tùy thân, không người bảo lãnh lại thêm lệnh tróc nã phạm nhân trốn tù được phát đi từ xứ Guy-An đến khắp các thuộc địa. Lập tức chính phủ Hà Lan tống cổ C. và H. trở lại ngục thất Cay-En. Tại đây chúa ngục đã "ban" cho hai người những chiếc gông gỗ đeo cổ và những cặp xích xiềng nặng cả 10kg đeo vào chân. Bảy ngày sau, tòa án Cay-En tuyên án khổ sai chung thân đối với hai người.

Không hề nản chí, cả hai tiếp tục bàn kế tìm cách vượt ngục lần hai. Một sớm mai, nhân cơ hội được đi làm ngoài, cả hai người đã tìm đường trốn thoát và được một vị thương khách Trung Hoa quen biết giới thiệu xuống gặp một đầu bếp làm việc cho một thương thuyền Hà Lan đang cập tại Cay-En. Nghe qua tình cảnh của hai người, vị đầu bếp liền đồng ý nhận lời sẽ giấu họ xuống hầm tàu: "Sáng mai tàu sẽ nhổ neo đi Tinh-Châu (Singapore)". Nghe vậy cả hai mừng rỡ khôn xiết. Nhưng rồi đến phút cuối, một trục trặc đã xảy ra, vị đầu bếp chỉ đồng ý tiếp nhận một trong hai người. Thương bạn sức lực quá yếu, C. đã nhường cho H. đi trước, còn mình đợi chuyến sau. Buổi chia tay nghẹn ngào đầy nước mắt.

Xuống tàu, vị đầu bếp người Trung Hoa đã giấu H. trong một bao bố đặt cạnh bếp. Trên đường về Tinh-Châu, tàu ghé đảo Mác-ti-ních (Martinique) để chở mật mía. Tại đây sau khi nghe bảo "nhà đương cuộc trên đảo sắp xuống kiểm tàu", H. liền được vị đầu bếp "tốt bụng" cho chui vào hòm rương của mình ẩn trốn. Nhưng đen đủi thay, sau 10 giờ nằm trong rương, khi mở ra, trước mắt H. là hàng trăm lính da đen. "Con khỉ ốm này mà thằng Tàu kia bán đến 150 quan. Nếu vài tháng sau nó chết thì lỗ vốn bỏ mẹ”. Thì ra H. đã bị gã đầu bếp lừa bán cho một sở trồng mía ở đảo Mác-ti-ních.

Làm nô lệ đằng đẵng 18 tháng trời, một ngày kia H. được ông chủ gọi lên: "Ông không muốn dùng mày nữa. Giờ mày muốn đi đâu?". Như mở cờ trong bụng, H. ấp úng: "Cho xin được trở về quê hương xứ sở". Nghe vậy viên chủ sở mía mỉm cười một cách chế nhạo. Đúng một tuần sau, H. được "mãn nguyện" trở về nhưng không phải là quê hương An Nam bản quán mà chính là ngục thất Guy-An ngày nào. 

HOÀNG VĂN ĐÀO

 

Nguyễn Hữu Huân - người Việt đầu tiên bị đày ở Guyane?

 

Tượng Thủ Khoa Huân tại công viên Thủ Khoa Huân, thành phố Mỹ Tho

Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 tại thôn Tịnh Giang, huyện Kiến Hưng, phủ Kiến An, trấn Định Tường (nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Năm 1852, ông đỗ thủ khoa kỳ thi tại trường thi hương Gia Định. Sau đó, ông ra làm quan, được bổ làm giáo thọ phủ Kiến An.

Sau khi Pháp hạ thành Gia Định (tháng 2-1859), giữa năm 1859, ông hợp lực với Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa dũng, phất cờ khởi nghĩa. Tháng 7-1862, ông đến căn cứ Tân Hòa (Gò Công) bàn việc thống nhất lực lượng nghĩa quân với Trương Định nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu chống quân Pháp.

Tháng 7-1864, quan tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận đã nhu nhược bắt ông giao nộp cho quân giặc. Ngày 22-8-1864, ông bị chính quyền thực dân kết án khổ sai chung thân, đày đi Cayenne thuộc Guyane. Phải chăng lãnh tụ nghĩa quân Nguyễn Hữu Huân là người Việt đầu tiên bị đày ở Guyane?

Tháng 2-1869, ông được thả về nước tìm cách liên lạc với những người yêu nước và mưu tính phát động một cuộc khởi nghĩa mới. Rồi ông bị bắt, bị xử chém ngày 15-4 năm Ất Hợi (19-5-1875). Tấm gương sáng ngời của ông vẫn được lưu giữ mãi trong ký ức của nhân dân và của hồn thiêng sông núi, đúng như một câu ca dao ở địa phương ca ngợi: Một lòng đền nợ nước non, Ngàn năm vẫn đỏ tim son anh hùng.

TS sử học NGUYỄN PHÚC NGHIỆP

-----------------------------------

Phóng viên Tuổi Trẻ đã bị tai nạn khi tác nghiệp trong rừng và phải nằm cấp cứu tại Guyane. Nhưng hành trình Guyane không vì thế mà dừng lại. 

*
* *

 

Ông Đỗ Văn Phong (thứ ba từ trái sang, ngồi) ẵm con trai út Đỗ Như Ngọc (cha của kỹ sư Đỗ Thái Bình) trước khi bị lưu đày biệt xứ sang Guyane

Kỳ cuối: Chúng tôi đã đến đây

TT - LTS: Trong thời gian tác nghiệp tại Guyane, phóng viên Danh Đức đã bị tai nạn và phải cấp cứu tại đây. Nhưng hành trình Guyane không vì thế mà dừng lại. Anh vẫn tiếp tục để có những tư liệu mới cung cấp cho bạn đọc. Trở về sau chuyến đi, anh kể lại câu chuyện của mình.

 

Khuôn mặt ai đó chồm lên trên đầu tôi. Một người lạ, một ông Tây da trắng.

- Ông ta đã tỉnh lại rồi kìa - người đàn ông lạ đó reo lên.

 

Phóng viên Danh Đức được những người cứu hộ dùng nẹp cố định cổ và cột sống rồi đưa đến trạm xá ở Guyane

Cái gì vậy? Đầu óc choáng váng, chẳng biết mình đang ở đâu, làm gì... Bóng dáng những người thân bên cạnh nhân viên cứu hộ của đảo Ile du Salut, hòn đảo của người tù khổ sai Papillon.

Hóa ra tôi đã té trên các tảng đá này rồi bất tỉnh. Chỗ tôi trượt chân là một bãi đá gọi là hồ tắm của các tù nhân (La piscine des bagnards) trên bờ biển đảo Ile du Salut, gần hòn đảo Ile du Diable (hòn Quỉ). Hòn Quỉ này là nơi cuối cùng mà "người tù khổ sai Papillon" sống chung với Chang và Văn Lê, hai tù nhân đã từng nổi loạn ở Côn Đảo trước cuộc vượt ngục cuối cùng của mình. Hôm thứ ba 24-4-2008 ấy, tôi đã đáp tàu ra đây để tìm đến càng gần nơi mà hai cựu tù Chang và Văn Lê đã từng sống càng tốt, đã lò mò xuống bãi đá trơn trượt và bị té.

Nhân viên cứu hộ cố định cổ tôi lại bằng cái nịt cứng cho cổ và cột sống khỏi thêm chấn thương, rồi chở đến trạm xá. Các thủ tục đo huyết áp, nhịp tim: kết quả bình thường. Chờ tàu về lại đất liền. Trên chuyến tàu trở về, lần này tôi nằm dài sõng sượt chứ không thể đứng đón sóng như ban sáng lúc ra. Vào Bệnh viện Kourou, chụp scanner xem có chấn thương gì trong não: kết quả tốt. Song vẫn phải ở lại 24 giờ để theo dõi. Huyết áp cả đêm vẫn 120/80 trên màn hình monitor. Chỉ có đầu là đau vì bị đập vào đá.

Cuối buổi sáng hôm sau, giám đốc bệnh viện ghé vào bảo:

- Cho ông ra viện để chiều nay còn kịp chuyến bay về Pháp. Chỗ ông té trước đây ba năm đã có một quan chức cao cấp Trung Quốc trượt chân té rồi chết, ông có biết không?

- Có thể ông ấy đợi tôi đến thế chỗ ông ấy, nhưng số tôi chưa đến nên tôi chưa nằm lại - tôi đùa trả lời.

***

 

Chùa Một Cột do trung đoàn 9 lính thủy đánh bộ Pháp (đã từng đồn trú tại VN cuối thế kỷ 19) xây dựng tại Guyane 

Nằm trên giường bệnh, trong sự bảo vệ của bao máy móc và nhân viên y tế theo dõi, tuy đã qua khỏi ranh giới nguy hiểm, song đầu óc không thể không miên man kiểu "giờ lâm chung". Nếu không tỉnh dậy, chắc người ta sẽ thiêu xác rồi hồi hương! Nay yên ổn nằm đây, chả bù với các cụ tù nhân ái quốc ngày xưa sống chết ở đây như thế nào! Mấy mươi cụ đã bỏ mình vì bệnh sốt vàng da, có ai than khóc gì đâu!

77 năm sau chuyến tàu định mệnh của các cựu tù năm 1931, tôi đi máy bay Air France, một chuyến bay hầu như "trên đầu" lộ trình của con tàu La Martinière năm ấy: từ Singapore vượt eo biển Malacca rồi Ấn Độ Dương trước khi đến Pháp đáp một chuyến Air France khác bay đến Guyane.

Tổng cộng bay ba chuyến và đợi ở sân bay là hơn một ngày rưỡi, trong tiện nghi của Air France (chọn khẩu phần ăn kiêng, thực đơn ghi rõ bao nhiêu calorie...) mà còn than mệt! Thế tám mươi mấy năm trước, các cụ "chết gí” vì nóng bức và ngột ngạt trong hầm con tàu hơi nước La Martinière suốt một tháng rưỡi thì sao? Nay sung sướng đến thế sao lại than vãn?

Miên man nghĩ ngợi kèm theo những mặc cảm hối lỗi vì trưa hôm qua lè phè, đau bụng nên đã không nấn ná ở Sở Văn khố lưu trữ để chụp cho hết hồ sơ các cụ tù nhân, hẹn hôm nay đi đảo về, mai sẽ quay lại chụp tiếp cho hết lô tài liệu về các cụ. Giờ nằm bẹp ở đây, mai phải chuyển về Pháp để nếu có gì xấu hơn còn tiện đưa về nước thì làm sao chụp xong số hồ sơ?

Ở quê nhà biết bao người, gia đình con cháu các cụ, đọc bài của mình sẽ mong mỏi tìm lại gốc tích tổ phụ họ như thế nào. Đừng có đổ thừa bị đau bụng mà hôm qua bỏ dở công việc chụp lại hồ sơ về sớm. Đã có bác sĩ Kim, chuyên gia bệnh tiêu hóa, ở đây chữa rồi, còn phàn nàn gì nữa. Ngày xưa bao nhiêu cụ bị tả, lỵ giữa chốn rừng thiêng nước độc ở nhà lao An Nam? Đã chẳng đọc trong một số hồ sơ các cụ, phần ghi chú của bác sĩ nhà lao ghi cụ nào chết vì bệnh gì hay sao mà còn than với vãn! Thậm chí có cụ hồ sơ ghi được trả tự do mà vẫn không sống được để ra trại, vì đã bị bệnh quật ngã rồi.

***

Về đến quê nhà, lật lại xem loạt bài "Nhà lao An Nam ở Guyane", đọc những ý kiến phản hồi của bạn đọc, nhất là thân quyến các cụ, lòng tôi càng ân hận hơn vì đã không chụp hết toàn bộ hồ sơ các cụ. Xin hẹn dịp khác vậy. Dẫu sao, nay các cụ có còn nằm lại ở đó cũng không còn "vô danh" nữa vì bây giờ đã có nhiều người ở quê nhà biết rồi, nhiều người tỏ lòng tri ân các cụ rồi. Trong rừng già Amazon ấy, trước những di tích còn sót lại của các cụ, lòng thầm nghĩ: các cụ thuộc về lịch sử. Con cháu nào được phép quên. Tôi cũng đã kịp để lại dưới lư hương và ba chung rượu kính các cụ một tấm danh thiếp báo Tuổi Trẻ, bọc plastic và bỏ trong một lớp bao nilông, ghi ít chữ bằng tiếng Pháp: "Sommes venus commémorer nos aieux. Guyane, le 19 avril 2008" (Chúng tôi đã đến đây tưởng nhớ các cụ. Guyane ngày 19-4-2008).

Dẫu sao, tôi cũng đã chụp được vài chục hồ sơ các cụ để sớm trình cho gia quyến các cụ. Đã đến viếng tại chùa Một Cột ở Guyane. Cũng đã tìm ra vài tông tích của những binh lính người Việt đầu tiên ngay từ đầu thế kỷ 20 đã sang đến tận Sibérie lạnh giá chiến đấu và bỏ mình ở đó. Cũng đã tìm ra dấu vết của một "cảng Bắc kỳ” xưa ở một thành phố cảng trên đất Pháp, gần cảng mà các cụ đã phải ghé trước khi sang Guyane.

Tất cả xin sẽ lần lượt trình với bạn đọc trong một ngày gần đây.

DANH ĐỨC

Nguồn: Tuổi Trẻ online 

 

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép