TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Vụ án ''Hải tặc'' thời Tự Đức In

Vụ án ''Hải tặc'' thời Tự Đức
Lê Nguyễn Lưu

Đêm đã khuya. Vua Tự Đức lật đến tờ tấu cuối cùng trong ngày. Đọc xong, ngài bỗng ngồi thừ người suy nghĩ. Không khí trong điện hoàn toàn im ắng. Hai cung nhân hầu quạt xua đuổi phần nào cái oi bức của tiết hè vùng Kinh đô Huế... Điều gì khiến nhà vua trầm tư đến thế? Chính là ở nội dung tờ tấu do Bộ binh chuyển lên: Bọn Chưởng vệ Phạm Xích, Lang Trung Tôn Thất Thiều tâu trình đánh đuổi ba tàu hải tặc ở vùng biển Quảng Nam - Quảng Ngãi, một chiếc bị bắn chìm, một chiếc bỏ chạy về phía đông, còn một chiếc bị quan quân áp sát, giết được ngót tám chục tên, thu tàu giải về neo tại vụng Chiêm Dữ, báo công xin triều đình ban thưởng...
 
Bấy giờ là mùa hè năm Tân Hợi (1851). Suốt bốn năm trị vì (1847-1851), nhà vua chưa từng nghe vùng biển miền Trung có hải tặc quấy phá. Vả lại, chỉ một chiếc tàu đã đến tám chục tên, huống chi ba chiếc; lực lượng hùng hậu thế, sao chúng lại "hiền lành" đến độ không chống đánh gì, quan quân vẫn bình yên vô sự? Mối ngờ càng tăng, nhà vua nhấc bút châu phê vào tờ tấu: "Giao qua Bộ binh điều tra cho rõ sự tình". Xong, ngài đứng dậy, vươn vai, lên long sàng nằm nghỉ. Vừa chợp mắt, ngài mơ thấy một lũ thần dân áo quần rách bươm, mình mẩy máu me, cùng khóc lóc van lạy kêu oan.
 
Quan thượng thư Bộ binh phái nhân viên đi khám xét. Vài ngày sau người ấy đi về phúc trình không phát hiện được điều gì khác lạ, ngoài trừ chiếc tàu giống thuyền buôn hơn là tàu giặc, chẳng trang bị gì... Ngay lúc ấy, một phụ nữ Hoa kiều đến nha môn xin cáo giác. Nguyên bà là chủ quán một tiệm ăn ở phố Gia Hội, chồng về nước bặt tin đã lâu. Viên đội trưởng trong vệ Tuyển Phong tên Trần Hựu đem bạn bè về chiêu đãi; no say rồi, anh ta bảo bà chủ tính tiền, rút chiéc nhận cầm tạm bảo thối tiền mặt. Bà chủ thấy nhẫn ngờ ngợ, xem kỹ nhận ra bảo vật của chồng vặn hỏi. Hựu lúc đầu tìm cách chối, sau chịu theo bà đến nha môn trình việc. Hoá ra y là thủ hạ của Tôn Thiết Thiếu.
 
Trước mặt quan Bộ binh, Hựu cung khai rằng ngày 18 tháng 5 vừa qua (17-6-1851), thuyền quan đâu ở cửa Thi Nại, được tin có ba chiếc thuyền lạ đậu ngoài hải phận đảo Thanh Dư. Chưởng vệ Phạm Xích và Thi lang Tôn Thất Thiều lập tức đuổi theo bắn. Chúng không hề kháng cự, chỉ một mực chạy về phía đông. Khi áp gần một chiếc, Xích mới bắn một phát, thì thuyền ấy cuốn buồm, 33 người lên thuyền quan trình thẻ.Họ đều là nhà buôn, nhiều người ở phố Thừa Thiên, nói là có quen biết Tôn Thất Thiều. Nhưng Thiều quát át đi, sai lính bắt chém hết. Xích cũng bảo Suất độ Dương Cù đem 76 người còn lại trên thuyền giết hết, ném xác phi tang xuống biển, không quên thu giữ vàng bạc, của cải, hàng hoá chia nhau! Bà chủ quán cho biết chồng bà cùng nhiều bạn khác thuộc các bang ở Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi nhân về nước thăm quê nhà, kết hợp đi buôn, có giấy phép của trên cấp, từ lâu đều bặt tin...
 
Quan Thượng thư Bộ binh sau khi gọi thêm nhân chứng điều tra, làm tờ tâu, nói bọn Xích giết càn và mạo xưng công lại. Vua Tự Đức thịnh nộ, phê giao Ty tam pháp xét xử. Thiều chủ mưu, bị đổi theo họ mẹ (Đặng), cùng Xích đều bị xử tội lăng trì, vợ con phải phát phối; Dương Cù đồng loã, xử tội trảm quyết; Trần Hựu biết thú nhận khi chưa tra khảo nên được tha. Bản án dâng lên , vua Tự Đức châu phê chuẩn ngay, còn xuống chỉ truy thu tang vật trả lại thân nhân những người bị hại...
 
Sau vụ này, Hoa thương phố Gia Hội quyên góp sửa ngôi chùa cổ đã sụp đổ để làm đền thờ cả 109 người chết oan. Đó là Chiêu Ưng Từ, mang biển số nhà 143 đường Chi Lăng, thành phố Huế. Ngôi đền nằm trong khuôn viên rộng khoảng 400m2. Tường rào bằng sắt bao quanh, cổng trước cũng bằng sắt, không trụ biểu, dẫn vào sân ngoài. Kế đến cổng chính kiểu nhà có mái, cao 7m, dài 13m, rộng 5m, chia ba gian các cánh cửa bằng gỗ. Bên sau, ngôi đình tứ giác hai tầng mái kiểu cổ lâu, mỗi bề 7m, cao 7m, bốn cột đúc giữa, bốn cột phụ. Chính điện bằm giữa khi sân trong, ba gian, dài 12m, rộng 8,4m. Nội ngoại thất cả ba kiến trúc đều trang trí bằng phù điêu gốm màu sản xuất từ Trung Quốc với các hình tượng cá gáy hoá rồng, phúc lộc thọ, thơ văn chữ Hán viết lên tường bằng bột màu. Nóc quyết đắp tứ linh tinh xảo, rực rỡ. Bên trong treo các hoành phi "Nghi đôn tang tử" (Thắt chặt tình quê), "Khí túc sơn hà" (Non sông vững chắc) và tấm biển "Chiêu ứng từ" cùng tấm bia khắc tên các Hoa thương cúng tiền xây dựng, đề nằm 1909.
 
Đây là ngôi miếu của người Hoa trên đất Huế, ghi dấu một sự kiện lịch sử và pháp chế đời Tự Đức, đến nay vẫn được bảo quản tốt. Vụ án trên là kể theo tập truyền địa phương và tham khảo thêm sách Đại Nam thực lục - Đệ tứ của Quốc tử giám triều Nguyễn.


(Huế, 9-1997)

 

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép