TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Phần 3 . Kỳ 18,19 In

Huyền thoại về Cụm tình báo H.63- Phần 3 :

Kỳ 18: Bắt đầu từ "tình yêu bò cạp

(VietNamNet) - Trong lưới tình báo huyền thoại H.63, điệp viên Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) và Tám Thảo (Mỹ Nhung) dù hoạt động trong lòng địch nhưng chưa bao giờ cô độc. Đằng sau họ là cả một "hậu phương" hoạt động thuần thục như một cỗ máy. Và mỗi cỗ máy luôn cần có một "máy trưởng" tài ba. 


"Máy trưởng" chỉ huy cỗ máy H.63 anh hùng được biết đến với tính cách hóm hỉnh, gan dạ, mưu trí và có nhiều tài vặt, nhất là biệt tài bắn súng 2 tay như một. Ông là ai?

 

Trong một tài liệu đánh giá về lưới H.63, cụm trưởng có một vai trò quan trọng: kiểm tra, điều nghiên tình trạng của toàn lưới một cách cụ thể, tiếp xúc với điệp viên để hướng dẫn, bồi dưỡng cho điệp viên, nghe điệp viên nói, để điệp viên bớt cô độc và căng thẳng. Cấp chỉ huy lúc nào cũng phải kiểm soát được điệp viên trong mọi tình huống.

 

Những năm tháng ác liệt nhất trên chiến trường miền Nam, với vùng ven luôn bị vây ráp, trong thành bị kiểm tra gắt gao, trong mỗi lưới tình báo, cụm trưởng phải là người "đứng mũi chịu sào". H.63, dưới sự chỉ đạo của ông, vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để bất cứ lúc nào cũng có thể thông tuyến từ trong thành ra căn cứ và ngược lại. Cùng với một tập thể anh hùng, 32 năm sau, năm 2006, cụm trưởng H.63 nhận danh hiệu cho riêng mình, từ Đảng và Nhà nước: Anh hùng Lực lượng vũ trang.

 

Con đường từ cậu bé nghèo đất Bà Rịa - Vũng Tàu đến Cụm trưởng Cụm tình báo H.63 huyền thoại và Anh hùng LLVT của ông như thế nào?

 

"Tình yêu bò cạp!"

 

Năm 1928, tại một làng quê xã Long Phước (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nguyễn Văn Tàu ra đời. Cậu bé nghèo sau này trở thành chỉ huy của cụm tình báo huyền thoại có một tuổi thơ đầy khí tiết cách mạng và tình yêu... trẻ con. Tháng 4/2007, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai vợ chồng ông đều vui đùa gọi đó là tình yêu bọ cạp!

 

 

a
Cậu bé nghèo sau này trở thành chỉ huy của cụm tình báo huyền thoại có một tuổi thơ đầy khí tiết cách mạng và tình yêu... trẻ con.

Hồi nhỏ, gia đình nghèo khổ, Nguyễn Văn Tàu phải gánh hàng rong đi bán trong xóm phụ mẹ. Gánh hàng nhỏ bán đủ thứ vật dụng như dầu hôi, nước mắm, thuốc tây... Ngoài gánh hàng rong cùng mẹ, Tàu mua cả heo về làm thịt và gánh đi bán. Không có nghề nào cậu bé nghèo này không làm, miễn là kiếm ra tiền, giúp mẹ. Nhưng anh vẫn ham học, tiếng Pháp nói giỏi nhất làng. 

 

 

Giặc Tây ào tới làng quê thanh bình. Chúng chiếm trường học. Ngôi trường nơi Tàu đang học phải dời xuống Mỹ Tho. Tàu không theo được. Anh về nhà và vào đội thanh niên tiền phong. 17 tuổi, khát vọng làm cách mạng nung nấu trong đầu Tàu. Khi đó, phong trào thanh niên tiền phong của mình, nhưng núp bóng Nhật để tổ chức. Nhật đã đảo chính Pháp, chúng cho phép thành lập các đội thanh niên tiền phong.

 

Tham gia hoạt động, nhưng Nguyễn Văn Tàu chưa biết gì về Đảng cộng sản. Lý do đơn giản nhất anh vào đội tiền phong: Thấy vui thì nhập! Niềm vui của Tàu là đêm đêm anh được gọi đi tập đánh trận giả, tập võ... Khí thế trai trẻ, có chút võ trong người, đêm nào Tàu cũng tham gia thi thố trên võ đài làng.

 

Tháng 8/1945, khi cả nước giành chính quyền, Tàu cũng cầm gậy tầm vông chạy ra tỉnh cùng dân làng. Thiếu niên Tàu nhớ mãi hình ảnh lãnh tụ thanh niên tiền phong cưỡi ngựa chạy trước, dân làng chạy theo sau. Anh chỉ nghe dân làng nói đi đánh Tây, thế là cầm gậy đi. Tàu suy nghĩ thật giản đơn: Mình đang góp sức đuổi Tây ra khỏi đất nước.

 

Tàu ham chơi. Mẹ anh quyết định cưới vợ cho con bớt lêu lổng. Giữa Nguyễn Văn Tàu và cô bé Trần Ngọc Ảnh khi đó không hề có tình yêu. Tất cả do cha mẹ, ông bà hai bên sắp đặt. Năm 1946, cô bé Trần Ngọc Ảnh nghe theo ông bà, sang "ở" nhà Tàu. Cô nghe mọi người nói làm dâu rất cực, nhưng không thể chống lời ông bà. Khi mới cưới, hai người ở chung nhà, mang danh vợ chồng nhưng chẳng... quen nhau.

 

Hai vợ chồng trẻ con không ai thèm nói chuyện với ai. Có hôm, vợ Tàu bị con bò cạp cắn. Cô khóc rống lên. Má chồng chạy vào, thấy thế kêu lên: "Tàu ơi Tàu! Con vợ mày nó bị bò cạp cắn, mày vào xem nào!". Con bò cạp giúp 2 vợ chồng trẻ con có cái nắm tay đầu tiên. Từ hôm đó, hai người mới nằm chung giường và nói chuyện với nhau. Nguyễn Văn Tàu mới 18 tuổi.

 

Má tâm sự thật, tìm vợ để Tàu khỏi đi đánh giặc. Bà thương con, muốn giữ chân con ở làng. Gia đình chỉ có mình Tàu. Khi má sinh ra Tàu, ba anh bỏ đi kiếm vợ khác.

 

Giặc Tây về làng kiếm một người thông ngôn. Cả làng chỉ mỗi Tàu biết tiếng Pháp. Trước, mỗi lần có Tây đến, quan làng lại gọi Tàu đi phiên dịch. Khi bọn Pháp về, chúng phàn nàn, tại sao cả làng không ai biết tiếng Pháp, mình Nguyễn Văn Tàu biết mà không kêu vào làm việc?

 

Hồi đó, Tàu hay đi theo một người có tư tưởng yêu nước trong làng là ông Nguyễn Văn Đường. Ông dạy anh hát những bài cách mạng. Khi học trong trường, cũng nhiều người nói với Tàu chuyện về cách mạng, về những tất yếu phải đuổi Tây ra khỏi đất nước. Những tình cảm với cách mạng, dù mơ hồ nhưng đã ngấm dần vào đầu chàng thanh niên trẻ.

 

Tàu ghét làm việc cho Tây. Biết chuyện người Tây đang tuyển mình làm thông ngôn, anh ở luôn trong rừng, không về nhà nữa. Đó là năm 1947, chỉ một năm sau khi có vợ. Tàu tranh thủ "để trong bụng vợ một miếng" (từ của bà Trần Ngọc Ảnh, vợ ông Nguyễn Văn Tàu) rồi đi tuốt luôn. Cả làng biết Tàu hay làm thông ngôn cho Tây.

 

Nhưng cũng nhiều tin đồn anh theo Việt Minh vào rừng. Ngay sau khi chồng biền biệt trong rừng, Trần Ngọc Ảnh cũng sinh con và lên Sài Gòn học nghề đánh máy kiếm sống.

 

Bài học đầu tiêu

 

Nguyễn Văn Tàu có "máu tình báo" từ khi còn là một thanh niên mới lớn. Từ năm 1947, chàng trai nghèo Nguyễn Văn Tàu đã được ông Tư Túc dẫn dắt vào làm quân báo ở Long Điền (Bà Rịa - Vũng Tàu).

 

 

v
Những thử thách đầu tiên không bao giờ dễ dàng với Nguyễn Văn Tàu.

Thời kỳ này cũng đã manh nha ý thức cho Tàu về người chiến sĩ tình báo, nhất là hoạt động trong nội thành, đối diện với vô vàn hiểm nguy như thế nào. Và lần "sai sót" đầu đời của chàng trai trẻ Nguyễn Văn Tàu đã trở thành kinh nghiệm quý báu cho người cụm trưởng H.63 Tư Cang sau này.

 

 

Nhớ lại, khi ấy Tàu có bình phong làm công cho một tiệm nước người Hoa ở Phước Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu). Ông Tư Túc sai Tàu đi nắm tình hình đồn bốt giặc xung quanh rồi báo về. Tàu làm nhiệm vụ được mấy tháng thì xảy ra sự cố. Một hôm, lúc buổi trưa vắng vẻ, cô hàng tào phớ bị mấy thằng Tây trêu chọc. Thấy cảnh bất bình, "máu Từ Hải" trong người nổi lên. Anh can thiệp. Dùng vốn tiếng Pháp của mình, Tàu nói vào mặt 2 thằng Tây: "Các anh làm gì đó, buông con người ta ra!".

                                                                              

Tàu tự tin, vì hồi đó võ nghệ khá, lại nói tiếng Pháp trôi chảy. Lâu nay, tụi Pháp hàng ngày đi qua không biết gì về anh. Chúng nghĩ đơn giản: Tàu chỉ là kẻ bưng bê thuê! Vì thế, chúng giật mình vì kẻ phục vụ này biết tiếng Pháp. Hai thằng Tây to cao lực lưỡng buông cô hàng tào phớ ra. Tàu được đà, ngồi phân tích cho tụi nó rằng, quân đội nước khác tới đây, nếu làm vậy dân chúng đánh giá. Một thằng ngồi nói chuyện với Tàu, còn thằng kia vẫn tiếp tục ra ve vãn cô tào phớ tội nghiệp.

 

Tàu bảo thằng đang nói chuyện kêu thằng kia vào. Nó không nghe, còn cười khiêu khích. Anh đứng dậy định ra tay, cô hàng tào phớ sợ hãi núp sau lưng. Hai thằng Tây tức giận, lăm le súng và lựu đạn. Nhưng dân chúng đứng xem đông, chúng không làm gì được. Trước khi bỏ đi, chúng gằn giọng: "Chiều nay chúng ta sẽ gặp lại!".

 

Bọn Pháp vừa đi, Tàu nói với chủ tiệm không thể ở đó được nữa. Anh vô thẳng chiến khu Bà Rịa. Đến chiều, 2 tên Pháp dẫn một tiểu đội đến. Chúng lôi chủ tiệm đánh để truy tìm người phục vụ giỏi tiếng Pháp. Mấy ngày sau, đi đâu, chúng cũng mang ảnh Tàu (lấy trong tiệm nước) ra dò hỏi.

 

Hơn 30 năm sau, khi đã trở thành cựu cụm trưởng của lưới tình báo H.63 huyền thoại, Đại tá Nguyễn Văn Tàu thừa nhận: Đây là bài học đầu đời cho nghề tình báo của mình. Bởi vì, với nghề tình báo, nhiều lúc không thể để cho mọi người biết mình là ai, giỏi cái gì, phải thể hiện ra sao.

 

Sau đợt va chạm với 2 thằng Tây, Nguyễn Văn Tàu hoạt động thêm một thời gian trong Ban quân báo Bà Rịa- Vũng Tàu rồi ra Bắc tập kết vào năm 1954. 

 

Đây là quãng thời gian chuẩn bị hình thành một "tư cách chỉ huy" trong con người Nguyễn Văn Tàu. Anh bắt đầu phát huy các tài vặt sẵn có và học tập những "ngón nghề" của nghề tình báo, mong một ngày được trở lại Sài Gòn hoạt động. Nhưng, những thử thách đầu tiên không bao giờ dễ dàng...

  • Hà Trường - Thế Vinh - Việt Hà

Kỳ 19:Thử thách đầu tiên của xạ thủ "hai tay như một

(VietNamNet) - Biệt tài bắn súng "hai tay như một" của chàng trai miền Nam Nguyễn Văn Tàu thời ấy chỉ thua các xạ thủ quốc gia. Các "ngón nghề" quan trọng cũng được Tàu tích luỹ dần trong những năm tháng tập kết. Trước khi vượt dãy Trường Sơn trở về Nam, bài tốt nghiệp như một nhiệm vụ và thử thách thực thụ đã được Nguyễn Văn Tàu vượt qua xuất sắc...

Xạ thủ kiêm nhà văn và viên đạn dành riêng

Thời gian này, Nguyễn Văn Tàu mang tên Trần Văn Quang và làm Trung đội trưởng trinh sát kiêm Chính trị viên đại đội thông tin của Sư đoàn 338. Chuyện biệt tài bắn súng hai tay như một của cụm trưởng tình báo H.63 sau này cũng bắt đầu từ đây.

df
Vị chỉ huy tình báo bắn súng 2 tay như một.

Khi ở miền Bắc, trong tâm trí người sĩ quan miền Nam Trần Văn Quang đã phán đoán đến ngày trở về. Sẽ lại vào thành hoạt động, sẽ được hoạt động đúng như khát khao của anh, nhưng mới chỉ được thể hiện ngắn ngủi trong thời gian ở quân báo Bà Rịa. Quang bắt đầu tập đủ thứ. Tất nhiên anh biết, những thứ anh học sẽ có lợi cho nghề tình báo sau này.

 

Trung đội trưởng Quang có nhiều tài vặt, lại ham học nên anh biết nhiều thứ. Tận dụng xe của đơn vị, ngày nghỉ Quang tập lái. Đủ các loại địa hình, các tình huống. Lương hồi đó được 80 đồng, anh dành dụm gần 3 tháng để mua máy chụp hình. Có máy, anh lại lọ mọ tập rửa phim, bọc phim, in ảnh. Bất cứ lúc nào có thời gian rỗi, Quang lại dành cho việc tập xe, chụp ảnh.

Nổi nhất trong những tài của Trần Văn Quang là bắn súng bằng hai tay và có độ chính xác cao.

Trước khi ra Bắc tập kết, Quang ít được tiếp xúc với súng đạn. Những năm ở miền Bắc, anh được đơn vị huấn luyện nhiều về khoa mục bắn súng. Chiều nào trong đơn vị cũng có 10 phút ngắm súng bắt buộc. Ban đầu tập bắn, anh bắn rất tệ. Không nản, Quang chuyên cần tập. Đơn vị đóng ở Xuân Mai (Hà Tây), cứ ngày nghỉ mấy anh em thích súng lại rủ nhau vào núi tập bắn.

Chẳng bao lâu, Quang trở thành xạ thủ của Sư đoàn 338. Đã thành xạ thủ khi bắn tay phải, Quang tiếp tục học bắn tay trái và cách ngắm bắn. Anh tập bắn không nheo mắt ngắm, mà mở cả 2 mắt. Anh giải thích với cấp dưới: nếu bắn liên tục, nheo mắt sẽ rất mệt, tinh thần sẽ không vững.

Tay phải đã thành thục, anh tập cả tay trái. Lý do bắn súng cả hai tay anh đưa ra rất đơn giản: Khi trở vào Nam hoạt động, rủi có bị địch bắn cụt một tay thì vẫn còn bắn được bằng tay kia, không đời nào chịu thua! Năm 1956, với cương vị Trung đội trưởng Đại đội thông tin, Trần Văn Quang được phân công trực tiếp huấn luyện cho đại đội về môn bắn súng.

Bắn tay phải luôn đứng nhất, nhì sư đoàn, anh liên tục được cử đi thi hội bắn quân khu Tả Ngạn, xạ thủ toàn quân. Ở những cuộc thi này, Trần Văn Quang chỉ thua 3 kiện tướng thời bấy giờ ở miền Bắc. Anh toàn chiếm hạng tư. Nhưng khi Quang gạ bắn bằng tay trái, mấy kiện tướng đều từ chối. Biệt tài bắn súng hai tay bách phát bách trúng của Trần Văn Quang đã nổi tiếng toàn quân.

Bắn súng giỏi 2 tay, nhưng rất ít khi sử dụng biệt tài này. Hơn 30 năm sau, ngồi giữa Sài Gòn, Đại tá Nguyễn Văn Tàu thổ lộ: ngày đó khi đi trong thành, ông không bao giờ mang theo súng. Bởi, nếu mang súng theo người sẽ dễ sinh tâm lý hoảng sợ, bỏ chạy khi bất ngờ bị xét hỏi hay nghi ngờ. Trong số ít những lần mang theo súng (Tết Mậu Thân 1968), ông đều dành sẵn một viên đạn rời trong túi áo. Viên đạn dành riêng cho bản thân chỉ có duy nhất một cơ hội: sử dụng khi vào bước đường cùng, để bảo đảm an toàn và bí mật cho điệp viên, cho cụm.

Trong thời gian tập kết ngoài Bắc, những tài vặt của Trung đội trưởng Trần Văn Quang được phát huy tối đa. Những tài vặt này đều chuẩn bị cho nghề tình báo. Ngoài lái xe, bắn súng hai tay, chụp ảnh, nói tiếng Pháp... Quang còn luyện khả năng viết văn.

Anh thấy các nhà văn Phùng Quán, Trần Dần viết nhiều bài hay. Trong khi đó, thời gian mình hoạt động trong Nam trước khi đi tập kết có quá nhiều chuyện hay, có thể viết được. Cứ đêm đêm, anh không bỏ sót một chương trình văn nghệ quân đội nào trên radio. Quang lọ mọ học cách viết của những người đi trước. Rồi Quang viết thật. Bài đầu tiên có tựa đề "Vượt sông Soài Rạp". Câu chuyện kể về một lần đơn vị của Quang từ căn cứ Rừng Sác vượt sông vào thành phố bị tàu địch bắn, anh em phải lật xuồng để thoát chết và bảo vệ thông tin. Câu chuyện này đã luôn ám ảnh Trần Văn Quang.

Khi viết xong, Quang gọi anh em trong đại đội lên. Anh bảo: "Bữa nay tao viết được bài này, tụi bay nghe xem". Anh hăm hở đọc. Đọc được một lát ngó xuống, thấy anh em về sạch, chỉ còn 2, 3 người thân nhất... cố ngồi "chịu đựng"! Lần đầu không đạt, Quang sửa lại, viết ngắn và cô đọng, súc tích hơn. Lại gọi anh em đến nghe. Nể trung đội trưởng, anh em lại ngồi nghe nhưng vẫn về... rải rác. Không nản chí, anh lại sửa thêm lần nữa, rút từ 4, 5 trang xuống còn 2 trang.

Anh em đại đội lại đến nghe. Quang đọc xong, nhìn xuống thấy mọi người vẫn... trật tự ngồi nghe. Lần này là những tiếng vỗ tay vang lên không ngớt. Sau đó, Quang gửi bài đó ra báo Thống Nhất tham dự cuộc thi những chuyện sâu sắc nhất thời kháng chiến. Thật bất ngờ, tác phẩm của anh đoạt giải khuyến khích và được nhuận bút 7 đồng.

"Nhiệm vụ đầu tiên"- giả mà thật

Năm 1961, cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết rục rịch chuẩn bị về lại chiến trường. Tâm hồn Trần Văn Quang vui như gió lộng. Sắp được về lại quê hương, được cầm súng chiến đấu, được gặp lại vợ con. 

d
 

Nhưng đang chuẩn bị tinh thần về lại Nam thì Quang nhận được lệnh ở lại dự lớp đào tạo thêm về sĩ quan tình báo. Trong 6 tháng, anh được đào tạo thuần thục về võ nghệ, lái xe, đọc những cuốn sách về nghề tình báo, xử lý các tình huống.

 

Kết thúc khóa học, anh được chọn là "học sinh giỏi". Nhưng bài tốt nghiệp thực sự như một nhiệm vụ thực tế đầu tiên của nghề tình báo anh phải hoàn thành. 5 người công an được ví như "mật thám" theo sát Quang. Anh nhận chỉ thị phải hoàn thành việc đưa thư trong 3 tiếng đồng hồ. Phải vượt qua các "chướng ngại vật" di động và cố định. Đến lúc trao thư, không còn sót cái đuôi nào, không bị dàn "mật thám" phát hiện ra.

Theo quy định, 2h chiều, Quang xuất hiện trước cột cờ Ba Đình, nhận thư, đúng 5h phải đưa thư về hộp thư ở cầu Long Biên. Nếu quá 5h không có thư là thua, là không hoàn thành tốt nghiệp. Trước khi "cuộc chơi" bắt đầu, Quang đã âm thầm đi nghiên cứu địa bàn trước như đang hoạt động thật sự trong lòng địch.

Hôm bắt đầu nhận "nhiệm vụ", anh xuất hiện tại cột cờ với những ám hiệu theo quy định để "mật thám" nhận ra mình. "Quân thù" biết anh, còn anh không biết ai theo dõi mình. "Cuộc chơi" bắt đầu lúc 2h chiều. Anh nhận thư và leo lên xe đạp lòng vòng trong phố. Đang chạy, Quang giả vờ rơi 1 đồ vật xuống đất và cúi xuống lấy, đồng thời ngoái lại quan sát "đuôi".

Anh phát hiện ra hai "thằng" theo mình. Thêm vài lần quan sát nữa, Quang nhận diện trong đầu có đúng 5 "thằng" theo mình. Anh suy tính sẽ cắt đuôi từng "thằng" một. Nếu tới 5h mà vẫn còn người theo thì mình thua. Quan tr

 

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép