TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Phần 3 . Kỳ 20, 21 In

Kỳ 20: Lắp ráp và khởi động "cỗ máy" H.63

(VietNamNet) - Đầu năm 1962, vượt Trường Sơn, Trần Văn Quang từ miền Bắc trở về chiến khu R (Tây Ninh). Quang có tên hoạt động là Tư Cang và nhận nhiệm vụ: Chỉ huy lưới tình báo A18 (tiền thân của lưới H.63 sau này). Đây là những năm tháng chiến trường miền Nam trong tình thế khó khăn. Lưới tình báo hàng trăm người, chỉ để phục vụ và bảo vệ các điệp viên. Họ có an toàn và hiệu quả trong lòng địch?

"Máy trưởng" nhận nhiệm vụ

H.63 là được ví như một "cỗ máy". "Máy trưởng" Tư Cang trở về từ miền Bắc, nhiệm vụ: khởi động và vận hành trơn tru "cỗ máy" này.

h
Đầu năm 1962, Trần Văn Quang từ miền Bắc trở về chiến khu R, lấy tên hoạt động là Tư Cang và nhận nhiệm vụ: Chỉ huy lưới tình báo A18 (tiền thân của lưới H.63 sau này).

Những năm 60, tình hình miền Nam gặp nhiều khó khăn với những đợt vây ráp gắt gao của địch. Việc di chuyển cán bộ tình báo từ miền Bắc vào Nam hoạt động cũng gặp trở ngại. Đường bộ bị ngăn, đường biển càng nguy hiểm hơn. Trung ương Cục miền Nam có sáng kiến thành lập các cụm tình báo hoạt động xung quanh Sài Gòn. Cụm tình báo sẽ khắc phục được liên lạc đường dài giữa Cục tình báo và các điệp viên họat động trong lòng địch. Mỗi cụm phụ trách và phục vụ chỉ 1, 2 điệp viên.

Đầu năm 1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của cụm H.63) ra đời, đóng tại căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Tất cả để phục vụ điệp viên nổi tiếng Hai Trung. Đằng sau những tin tức, tài liệu chuyển về của Hai Trung, là cả hệ thống phục vụ, cả trong nội đô và ngoài căn cứ.

Thời kỳ đầu, H.63 là bộ phận địch tình của thành ủy Sài Gòn. Khi Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) từ Mỹ trở về, hoạt động giữa Sài Gòn với tư cách phóng viên báo nước ngòai, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý - cán bộ Cục Tình báo) là người trực tiếp chỉ đạo.

Năm 1962, ông Mười Nho bị bệnh, không thể chỉ huy H.63. Cả mạng lưới với một điệp viên đã nằm sâu trong lòng địch như Hai Trung, cần một chỉ huy giỏi và mưu trí. Tư Cang là người được ông Ba Trần, Thủ trưởng Phòng tình báo miền lúc bấy giờ lựa chọn. Tháng 5/1962, Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H.63. 

"Khởi động" H.63!

"Cỗ máy" đã có "máy trưởng", sẽ kết nối các "bộ phận" và hoạt động như thế nào?

f
 

Đầu tiên là liên lạc. Trong một lưới tình báo, khâu liên lạc là khâu khó khăn nhất, đặc biệt là liên lạc trong nội đô. Tài liệu, tin tức điệp viên đưa ra, dù điệp viên có giỏi đến đâu nhưng liên lạc kém cũng sẽ thất bại. Thất bại, đồng nghĩa với sinh mệnh của điệp viên nguy nan. Liên lạc viên nội đô của H.63 trực tiếp nhận tin từ Hai Trung phải là người đảm bảo được nhiều yếu tố.

Đó là một bình phong tốt, trí nhớ cao, thuộc nhiều địa danh trên đường phố, địa bàn, thông thạo các phương tiện công cộng, các nơi tập trung đông người như tiệm ăn, rạp hát, chợ... để dễ thay đổi chỗ hẹn. Liên lạc viên nội đô phải có óc quan sát sắc bén, biết nhận diện tướng mạo con người để phát hiện khi bị theo dõi, đủ tài đánh lạc hướng.

Ai sẽ dấn thân vào nguy hiểm và đáp ứng được những điều kiện khắt khe của nhiệm vụ kết nối này?

Nhiều giao thông được đưa vào thành giới thiệu với Hai Trung. Nhưng ông không đồng ý một ai. Hai Trung hoạt động trong thành, lường trước được những điều xảy ra với một giao thông viên nội đô. Người trẻ quá dễ bị bọn lính chọc ghẹo. Có người là thanh niên, dễ bị bắt lính bất cứ lúc nào.

Giao liên Nguyễn Thị Ba (quê Long An) được giới thiệu với Hai Trung. Chị Ba (còn gọi là chị Ba già) đáp ứng được những yêu cầu mà điệp viên và tổ chức đặt ra. Chị Ba có tuổi, giàu kinh nghiệm, thông thuộc địa bàn, chưa bị bắt lần nào và có bình phong tốt. Hai Trung mới nghe tổ chức giới thiệu, đã nhận ngay.

Trong một tài liệu tổng kết về giao thông viên lưới H.63, vai trò của Nguyễn Thị Ba được đánh giá: một giao liên gan dạ, mưu trí bên cạnh điệp viên. Và những yếu tố khác: Chị Ba là đảng viên, chồng cũng là cách mạng lão thành. Xa chồng, xa con, chị một mình vào Sài Gòn lấy bình phong bán đồ vàng giả, đồ chơi trẻ con để làm liên lạc cho Hai Trung.

Theo quy ước, chị Ba bán hàng tại khu vực Chợ Cũ (chợ Bà Chiểu - TP.HCM bây giờ) để nhận tin tức và tài liệu từ Hai Trung chuyển ra. Thông thường, vào sáng chủ nhật hoặc giờ nghỉ, Hai Trung đi xe đến chợ, gửi xe rồi dắt chó vào chợ. Như một người đi mua đồ cho chó, cho chim. Đến hàng của giao liên, Hai Trung giả vờ tìm một vài đồ vàng giả mua về cho trẻ con.

Khi có tín hiệu an toàn, thư được bỏ vào hàng của Nguyễn Thị Ba. Nhận tài liệu, tin tức, Nguyễn Thị Ba sẽ trực tiếp chuyển cho giao liên đưa về căn cứ hoặc qua các liên lạc dự bị. Cứ vậy, gánh hàng trang sức giả là bình phong vững chắc cho liên lạc Nguyễn Thị Ba trong cả quá trình đứng đằng sau hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn.

10 năm làm liên lạc cho Hai Trung, Nguyễn Thị Ba chưa bao giờ sai một buổi hẹn nào, chưa có một sai sót nào. Chỉ có Hai Trung là thất hẹn một số ít lần vì bận đi ra ngoài thành phố không trở về kịp. Ông không thể thông báo trước, bởi vì bình phong bắt buộc Hai Trung phải đi xa thành phố đột xuất.

Bản năng cẩn trọng của người giao liên họat động trong nội thành thường trực trong con người Nguyễn Thị Ba. Chị luôn rất cảnh giác trước khi gặp Hai Trung, cũng như khi trao nhận tài liệu, tin tức. Cụm trưởng Tư Cang kể lại, cũng vì quá cảnh giác, nhiều khi gặp nhau trong chợ, Hai Trung phải khuyên Nguyễn Thị Ba đừng quá nhìn xuôi ngó ngược trong lúc nói chuyện. Vì điều này có thể gây chú ý cho bọn an ninh VNCH, vốn đầy rẫy xung quanh. 

Chị Ba già đã giữ đường liên lạc an toàn và hiệu quả suốt mười mấy năm. Mãi đến 3/1975, chị Ba mới được đổi bằng người khác. Sau này, thiếu tá Nguyễn Thị Ba được phong Anh hùng LLVT.

Khi còn sống, nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn từng đúc kết về giao liên với các nhà báo đến hỏi chuyện ông: "Điệp viên giỏi mà không có giao liên giỏi đưa tài liệu ra căn cứ thì chỉ có... ăn cám!".

Điệp viên không cô độc

Hai Trung, Tám Thảo và Nguyễn Thị Ba hoạt động trong lòng địch nhưng chưa bao giờ cô độc. Bởi lẽ, từ năm 1966, cụm trưởng Tư Cang nhận nhiệm vụ thường xuyên ra vào thành. Cụm trưởng vào vùng địch hậu hoạt động một thời gian dài và bất hợp pháp như Tư Cang được đánh giá là cấp chỉ huy không còn vị trí an toàn và công khai. Cụm trưởng cũng hoạt động mật như một điệp viên.

Cụ thể, Tư Cang nhận lệnh từ Phòng tình báo miền: Vào nội thành kiểm tra, điều nghiên tình trạng của toàn lưới một cách cụ thể. Cụm trưởng tiếp xúc với điệp viên, với giao thông nội đô để hướng dẫn, bồi dưỡng và trực tiếp chỉ đạo.

Việc ra vào thành như con thoi của Tư Cang còn có nhiệm vụ khác: lắng nghe điệp viên, làm giảm sự cô đơn và căng thẳng từ điệp viên. Tư Cang là cụm trưởng luôn kiểm soát được điệp viên trong mọi tình huống.

Tuy nhiên, theo các tài liệu đánh giá sau này, sự liên lạc trực tiếp giữa tổ trưởng và điệp viên liên tục cũng sẽ có hại đến sự an tòan của điệp viên. Nhưng thật tài tình, chưa một lần hoạt động của điệp viên và các mũi của H.63 bộc lộ sai sót.

Điều này thật thú vị khi lúc đầu Hai trung không biết ai là tổ trưởng của mình. Trung chỉ biết có một tập thể chỉ huy mình. Trong thời gian hoạt động trong thành, từ 1966-1969, Tư Cang lấy tên là Khanh. Và trong thư từ báo cáo, Hai Trung gọi Tư Cang là Robert. Bởi lẽ, đây là nguyên tắc để giữ bí mật tung tích cấp chỉ đạo. Hai Trung luôn ý thức về nguyên tắc này.

Giữa Hai Trung và Tư Cang sau này đã trở thành 2 người bạn thân, lúc những thông tin về 2 người đã được công bố. Chiến công của Hai Trung thì nhiều, nhưng Đại tá Tư Cang nhớ rất rõ khoảnh khắc một buổi trưa năm 1967. Hai Trung lái xe Renault chở Tư Cang đi trên đường, cụm trưởng báo tin cho điệp viên, tập tài liệu Hai Trung chuyển ra vừa qua rất có giá trị. Trung ương đã quyết định tặng thưởng cho Hai Trung một huân chương chiến công hạng nhất.

Nghe thủ trưởng nói vậy, Hai Trung mừng và nhớ ơn cấp trên. Nhưng rồi lại trầm hẳn xuống, và nói thật từ đáy lòng: đời người tình báo chẳng biết có cơ hội đeo huân chương không! Tư Cang không khỏi xót xa khi nghe cấp dưới nói vậy.

Sau chiến tranh, "bộ máy" H.63 đã 2 lần trở thành anh hùng. Trong những tài liệu tổng kết được công bố, H.63 được đánh giá tinh cán, gọn gàng, nhịp nhàng giữa điệp báo và giao thông cả trong nội đô và từ nội đô ra khu căn cứ, có sự chỉ đạo liên tục từ cụm trưởng.

Và dĩ nhiên, H.63 đã cống hiến cho cách mạng nhiều thông tin có hiệu lực và giá trị.

Nhưng, trước khi vào thành hoạt động, vị chỉ huy bắn súng 2 tay như một đã có những tháng ngày "ăn cùng bom, ngủ cùng đạn" tại căn cứ Bến Đình. Tất cả để duy trì lưới và bảo vệ những tin tức, tài liệu điệp viên gửi ra.

  • Việt Hà - Thế Vinh - Hà Trường

     

Kỳ 21: Sống trong hủy diệt

(VietNamNet) - Trong thành, điệp viên và giao thông nội đô đối diện với những hiểm nguy rình rập. Ở căn cứ, cả cụm H.63 cũng thường xuyên đối mặt với các trận vây ráp, càn quét của địch. Trước khi vào thành hoạt động, vị chỉ huy bắn súng 2 tay như một đã có những tháng ngày "ăn cùng bom, ngủ cùng đạn" tại căn cứ Bến Đình.

 
Đối diện với "anh cả đỏ"!

 

Năm 1965, tình hình miền Nam ngày càng căng thẳng. Bước sang năm 1965, Mỹ liên tục đưa các sự đòan lính thủy đánh bộ, Sư đoàn 1 bộ binh, kỵ binh không vận vào miền Nam. Trong đó, nổi lên nhất là sư đoàn kỵ binh số 1. Địch tuyên truyền rùm beng, đây là sư đoàn thiện chiến nhất với biệt danh "anh cả đỏ". Cạnh đó, chúng chuẩn bị đưa vào miền Nam sư đoàn bộ binh số 25. Chúng rêu rao: Đây là sư đoàn có khả năng giải quyết nhanh chóng chiến trường vùng nhiệt đới, nên được tôn vinh là "Sư đoàn tia chớp nhiệt đới".

 

 

h
Tư Cang và những khoảnh khắc nhớ lại hồi đối diện với "anh cả đỏ"

 

Theo chiến lược dồn dân, lập ấp để tạo ra các vùng trắng, quân địch bắt tất cả người dân nơi cụm đóng quân ra các ấp chiến lược. Để khủng bố và gây áp lực bắt nhân dân phải bỏ làng mạc ra đi, chúng không tiếc pháo, bom ném vào từng nhà một. Không ai có thể ở nổi. Cụm H.63 sống ẩn dưới địa đạo trong các khu dân cư, chống lại những cuộc truy lùng của địch.

 

Cụm trưởng Tư Cang (Nguyễn Văn Tàu) là người chứng kiến và có nhiều kỷ niệm nhất với mảnh đất Phú Hòa Đông. Không thể hình dung nổi cảnh máy bay ném bom trên mặt đất, cả cụm tình báo ở dưới lòng đất. "Ác liệt!" - Hơn 30 năm sau, đại tá Nguyễn Văn Tàu nhắc đi nhắc lại cụm từ này. Ông chợt "trở về" với Bến Đình, với những tháng ngày nằm sâu trong lòng địa đạo oanh liệt xưa... Bến Đình trở thành quê hương thứ 2 của Tư Cang và nhiều đồng đội trong cụm H.63. Sau ngày thống nhất đất nước, Bến Đình là nơi ông và đồng đội thường chọn để trở về, vào mỗi dịp quan trọng.

 

Trận chống càn đầu đầu tiên của cụm H.63 vào năm 1965, tại căn cứ Củ Chi. Sư đoàn "anh cả đỏ" từ căn cứ Bắc Bến Cát, hướng về đất Củ Chi càn quét. Quân địch được trang bị cực kỳ hiện đại và chuyên nghiệp. Lực lượng không quân và pháo binh đi trước dọn đường. Xe tăng âm ầm rung chuyển mặt đất. Lính bộ binh của chúng được trang bị tận răng, mỗi thằng cầm một khẩu tiểu liên M.16 "cực nhanh" đi sau xe tăng.

 

Khi chỉ còn cách Tư Cang và 2 đồng đội Năm Hải và Tư Lâm 200m, toàn bộ đội quân của chúng bị khựng lại. Xe tăng không thể qua được vùng sình lầy. Bọn Mỹ tức giận. Tiếng máy nổ vang một góc trời. Tổ 3 người do Tư Cang làm tổ trưởng đang núp trong một bụi cây rậm giữa đường và sông Sài Gòn theo dõi chúng. Thời cơ tiêu diệt những tên lĩnh Mỹ đầu tiên trên đất thép Củ Chi đã đến. Hồi đó, anh em chỉ được trang bị súng trường báng đỏ bắn từng phát một. Mỗi người một khẩu, riêng khẩu của Tư Lâm có gắn thêm bộ phận lắp được đạn chống tăng.

 

Ba tiếng nổ vang lên cùng lúc. Thằng Mỹ chỉ huy chết ngay tại chỗ. Thằng mang điện đài bổ nhào xuống sông. Một cột khói bao quanh chiếc xe tăng vừa trúng đạn của Tư Lâm. Sau phút định thần, chúng rút súng bắn loạn xạ ra hướng sau lưng, chúng không biết tiếng súng nổ ra từ hướng nào. Tổ 3 người lặn xuống sông và rời khỏi khu vực chiến đấu.

 

Ngay hôm sau, Tư Cang gửi một báo cáo gấp về trung tâm: Quân Mỹ bắt đầu chết trên đất Củ Chi!

 

H.63 trở thành "con mồi"!

 

Đội võ trang của cụm H.63, có thành tích đặc biệt là đội đầu tiên giết chết quân Mỹ dưới địa đạo. Cuối năm 1965, Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ được điều qua và đóng căn cứ tại Đồng Dù (Củ Chi). Căn cứ của địch chỉ cách căn cứ của H.63 khoảng 5-6 cây số. Đây là sư đoàn được đào tạo, huấn luyện chiến tranh chống du kích, cách đánh du kích.

 

Một ngày đầu năm 1966, không biết có chỉ điểm hay không, Sư đoàn này tính chuyện săn cụm H.63. Khi Tư Cang và Năm Hải đi công tác trong ấp Phú An về, anh em báo có 5 xe tăng của địch mò đến. Với kiến thức quân sự, cụm trưởng Tư Cang nhận ngay ra đây là một cuộc hành quân trinh sát của bọn Mỹ. Chúng đang chuẩn bị cho một trận tập kích đánh úp vào H.63. Một cuộc họp chớp nhoáng diễn ra.

 

Tư Cang đưa ra phán đoán: Có thể, chúng biết ta là một bộ phận quan trọng, muốn dùng lực lượng mạnh đánh úp bất ngờ. Và người chỉ huy đưa ra quyết định: đại bộ phận cụm sẽ tránh đi một địa điểm khác để giữ liên lạc mật vụ với nội đô và cấp trên!

 

Cụm trưởng cho một tổ 3 người ở lại duy trì liên lạc với các đơn vị bạn trong vùng. Cơ bản nhất, tổ có nhiệm vụ "đánh cho bọn Mỹ một trận, cho chúng biết tay!" Đúng như phán đoán, "anh cả đỏ" và Sư đoàn "tia chớp nhiệt đới" bị tổ 3 người Tám Phương, Đạo và Lợi cho "phơi áo" ngay trong lòng địa đạo.

 

Hôm sau, đại quân Mỹ cỡ chừng 50 xe tăng ào ào kéo đến. Có lẽ vì nắm vững vị trí và lực lượng H.63 theo bọn chỉ điểm nên bọn Mỹ định "ăn gọn", bắt sống cả cụm. Sau khi ngụy trang kỹ địa đạo, tổ 3 người cầm vũ khí chạy ra miệng địa đạo, mở nắp sẵn ngồi chờ địch tới. Đúng lúc đó, một tình huống ngoàii dự đoán ập đến. Khi xe tăng Mỹ đang tiến vào như 2 gọng kìm khép chặt địa đạo thì một toán khoảng 20 người của ta đang chạy đến địa đạo. Người dẫn đầu là Tư Kiếng, một cán bộ ban quân báo I4 (mật danh của Quân khu Sài Gòn - Gia Định).

 

Tư Kiếng đi móc nối cơ sở bí mật trong Sài Gòn ra, vừa đến đây thì gặp quân Mỹ đi càn. Trong quan hệ công tác, Tư Kiếng biết ở đây có lực lượng vũ trang của cụm H.63 nên dẫn cả đoàn chạy vào ẩn náu. Cả đoàn Tư Kiếng chui xuống địa đạo. Tám Phương là người xuống cuối cùng. Đó là lúc gọng kìm của địch khép lại. Một chiếc xe tăng địch đã đậu trên... nắp hầm.

 

Cả đoàn quân hùng hậu của Mỹ không thấy một bóng người. Địch tức tối đi tìm các nắp hầm bí mật. Thêm một số xe cơ giới hạng nặng từ Đồng Dù tới. Xe tăng chạy qua chạy lại trên mặt đất để nắp hầm bật lên. Ba nắp hầm bí mật bị khám phá.

 

Bọn Mỹ cười hô hố khi thấy các nắp bị bật tung. Điện đài được đánh về trung tâm chỉ huy ở Đồng Dù, yêu cầu trực thăng chở đội chuyên đánh đường hầm đến. Đó là "phi đội chuột cống". Toàn những tên không to con, vốn được huấn luyện đặc biệt tại Ha-oai, về môn đánh đường hầm.

 

Chuột cống "quốc tịch"... Mỹ

 

"Phi đội chuột cống" chụi ngay xuống hầm. Vừa mò mẫm vừa gõ dò tìm các nắp trầm, nắp bổng. Địa đạo được thiết kế đặc biệt và nhiều cấu trúc phức tạp. Một đoạn đường hầm từ 8 đến 10 mét trông như bịt kín 2 đầu. Nhưng nếu dùng đèn pin quan sát kỹ và dùng cán xẻng gõ tìm đường trong lòng đất, gần cuối đường hầm có một nắp khi thì trồi lên để sang hầm khác, khi thì tụt xuống. Đó là những nắm bổng, nắp trầm. Những sáng tạo khi đào địa đạo của cụm H.63 bọn địch có đoán trước cũng không tài nào qua nhanh được.

 

 

a

Tư Cang đưa ra phán đoán: Có thể, chúng biết ta là một bộ phận quan trọng, muốn dùng lực lượng mạnh đánh úp bất ngờ. Và người chỉ huy đưa ra quyết định: đại bộ phận cụm sẽ tránh đi một địa điểm khác để giữ liên lạc mật vụ với nội đô và cấp trên!

 

Mất mấy tiếng đồng hồ, "phi đội chuột cống" mới qua được các chướng ngại vật giăng sẵn. Chiến sĩ Đạo được giao nhiệm vụ ngồi gác trên một nắp bổng của đoạn kế tiếp. Tám Phương chỉ đạo: Đạo giương lưỡi lê ra, khi "chuột cống" đội nắp lên thì... xỏ lê ngang cổ, nó sẽ mắc kẹt ngang miệng hầm. Tay cầm lưỡi lê theo lời tổ trưởng nhưng Đạo run thật sự. Anh mới rời gia đình, nhập ngũ chưa đầy một tháng vào lực lượng vũ trang H.63. Ở nhà, Đạo tên là Hiến. Nhập ngũ, vì đào địa đạo giỏi nên anh em đặt tên là Đạo.

 

Đã thấy lính Mỹ dậm bịch bịch ngay dưới chân Đạo. Cái nắp chuyển động. Chúng cố sức mở nắp ra. Đạo lại đè xuống. Trong lúc bối rồi, Đạo quên lời tổ trưởng Tám Phương dặn. Anh bỏ cây súng đã giương lê sang một bên, toàn thân nằm trên nắp, dùng hai tay đè xuống. Phía dưới "chuột cống" đẩy càng mạnh.

 

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép