TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Hỏi đáp các vấn đề Lịch Sử


CÂU HỎI VÀ CÂU TRẢ LỜI
Câu hỏi: Câu hỏi 25: Gần đây ở Mỹ có người nói: Việt Nam đã đối xử vô nhân đạo với các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh. Sự thật có đúng như vậy không?
Trả lời:

Đáp: Trước hết cần hiểu rằng: những kẻ mà nhân dân ta gọi là giặc, giặc lái, đại diện cho một chính quyền hiếu chiến như tập đoàn Ních-xơn, cho quân đi xâm lược, gieo tội ác lên đầu nhân dân ta bằng bom đạn hủy diệt, kể cả những thứ mà luật pháp quốc tế cấm sử dụng như chất độc hóa học, bom bi, bom na-pan, với cuồng vọng dùng sắt thép để khuất phục một dân tộc, kẻ đó hoàn toàn không đủ tư cách để nói chuyện với chúng ta về nhân đạo, nhân quyền.

Hãy nghe Oan-tơ Cô-li, trung tá sĩ quan điện tử trên chiếc B52D xuất phát từ U-ta-pao, bị bắn rơi đêm 22 tháng 12 năm 1972, nói: "Ném bom Hà Nội, địa chỉ thiêng liêng nhất của người Việt Nam chẳng khác gì mang bom dội xuống Oa-sinh-tơn, thủ đô của người Mỹ (zxc Trích "Sự kiện và Nhân chứng" số 517)

Còn đây là lời thú tội của Ri-sớc Giôn-xơn, thiếu tá hoa tiêu trên chiếc B52G, xuất phát từ Gu-am, bị bắn rơi đêm 18 tháng 12: "Hàng loạt nhà ở, trường học, bệnh viện, chợ búa của Hà Nội bị bom B52 Mỹ tàn phá. Tôi thực sự đau lòng và lấy làm nhục vì đã tham gia cuộc ném bom hủy diệt này (zxc Trích "Sự kiện và Nhân chứng" số 517 ra ngày 23 tháng 12 năm 1999.)".

Nhân dân ta có quyền căm giận giặc Mỹ bạo tàn. Nhưng với truyền thống văn hóa bốn ngàn năm, với tấm lòng nhân ái cao cả, nhân dân ta đã đối xử hết sức nhân đạo với những kẻ thù dã bị bắt làm tù binh. Nhiều người Hà Nội còn nhớ một buổi sáng tháng 10 năm 1967, trên hồ Trúc Bạch thơ mộng của Thủ đô đã diễn ra hình ảnh những người dân Việt Nam, mặc dầu máy bay Mỹ đang lồng lộn trên đầu, vẫn dũng cảm lao ra giữa hồ nước để kéo vớt viên thiếu tá phi công Mỹ sắp bị chết chìm; đưa lên bờ, rồi đưa vào bệnh viện (zxc Đó là Giôn Mác-kên (John Mc Cain) lái chiếc A4E ném bom nhà máy điệnYên Phụ, bị Tiểu đoàn tên lửa 61 bắn rơi ngày l6-10-1967).

Các bệnh viện ở Hà Nội đã chứng kiến biết bao cử chỉ cao thượng của các bác sĩ, nhân viên y tế Việt Nam, nén chặt lòng căm phẫn, để ra sức cứu chữa cho những phi công Mỹ bị thương lúc nhảy dù.

Từ trên trời rơi xuống, chưa kịp hoàn hồn vì sợ và vì cái lạnh khủng khiếp, chúng đã phải giơ tay lên trời để dân quân ta bắt sống. Liền sau đó là những người dân mà thân nhân họ vừa bị bom Mỹ giết hại, với ánh mắt rực lửa căm thù, xông tới tên giặc như muốn băm vằm nó ra làm trăm mảnh. Nhưng, ngay lập tức đã có những cánh tay dang rộng của các chị, các anh cán bộ xã kịp thời ngăn chặn lại.

Đó là ở bên ngoài. Còn khi đã vào trại giam, họ được đối xử ra sao?

Thời đánh Mỹ, Hà Nội có một trại giam đặc biệt nằm trên đường phố Hỏa Lò, là nơi giam giữ những tù binh Mỹ, gọi là trại Hỏa Lò. Chính những tù binh phi công Mỹ dã đặt cho nó cái tên khá mỉa mai: "Khách sạn Hin-tơn" (zxc Khách sạn Hintơn (Hillton Hotel): khách sạn năm sao nổi tiếng ở Mỹ.). Trong những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc nước ta, nhất là vào những ngày cuối năm 1972, "Khách sạn Hin tơn" thường xuyên tấp nập những vị khách không mời mà đến: các phi công của Không lực Hoa Kỳ. Họ là những quân nhân thuộc các binh chủng khác nhau trong Quân chủng Hải quân, Quân chủng Không quân (gồm không quân chiến lược, không quân chiến thuật); cấp bậc từ trung úy đến đại tá, với đủ loại màu da: da trắng, da đen, da nâu, da đỏ, da vàng, phần đông là người gốc Mỹ, ngoài ra còn có những người gốc Anh, gốc Đức, Ý, Nhật, Mê-hi-cô...

Hầu hết họ là những phi công lão luyện, có tay nghề cao. Điển hình như Giêm Cát-lơ, thiếu tá anh hùng Không lực Mỹ, phi công kỳ cựu từ đại chiến thế giới lần thứ hai, được ca ngợi là con chim ưng vàng, người lái thần thoại, phi công có sáu giác quan. Hoặc như Ri-sớc Giôn-xơn, viên phi công B52 đầu tiên bị ta bắt, đã có trên 6.000 giờ bay. Nhiều phi công hàm đại tá cũng đã sớm có mặt trong trại giam này. Một số tên tự khai là họ đã được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, như huân chương Quốc phòng, huân chương Hải quân, huân chương Không quân, huân chương Phi hành gia xuất chúng, huy chương Chữ thập đỏ, Ngôi sao bạc, Trái tim hồng... do đã đạt được nhiều chiến tích xuất sắc (mà chắc chắn trong đó có không ít những "chiến tích" dội bom tàn sát đồng bào ta).

 

Khi mới vào trại giam, mỗi tù binh được cấp ngay chăn màn, quần áo (bộ quần áo kẻ sọc) (zxc Từ đó có cái tên của một bộ phim Cộng hòa Dân chủ Đức « Những phi công trong bộ quần áo ngủ" (Les pilotes en pyjàma)), khăn mặt, bàn chải, xà phòng, gương lược, dao cạo râu... Họ được ở mỗi người một căn buồng thoáng mát, có hộp loa phóng thanh gắn ở góc tường. Trong hoàn cảnh chung hết sức khó khăn của nhân dân ta, cán bộ, chiến sĩ của trại ăn uống rất kham khổ, nhưng chúng ta đã cố gắng dành cho họ những bữa ăn tươm tất.

Hàng ngày, Ban chỉ huy trại đã tổ chức cho các tù binh Mỹ một nếp sinh hoạt bình thường: tập thể dục, đánh bóng chuyền, chơi bi-a, đánh bài, xem phim, đọc sách báo, nghe ra-đi-ô, nhắn tin hoặc viết thư về cho gia đình. Qua loa phóng thanh, họ được nghe tiếng nói truyền cảm, dịu dàng của Thu Hương (zxc Nữ phát thanh viên Thu Hương được binh lính Mỹ đặt tên là Ha-na (Hannah).) trong chương trình dành cho binh sĩ Mỹ, của Đài tiếng nói Việt Nam. Họ thường được thưởng thức những bản giao hưởng tuyệt vời của các nhà soạn nhạc thiên tài thế giới, như Bi-tô-ven (Beethoven), Sô-panh (Chopin), Mô-da (Mozart), Ba-sơ (Bach)... được nghe giới thiệu về nền văn hóa và truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam ta.

Dần dà những nhận thức và tâm lý sai lạc của họ, do từng bị đầu độc bởi những lời tuyên truyền dối trá từ bên nước Mỹ, đã được điều chỉnh lại.

Họ còn được đưa đi xem các nhà bảo tàng. Sau khi xem Bảo tàng Quân đội, một trung tá phi công Hải quân tâm sự với cán bộ ta: "Chúng tôi không thể không kính trọng một dân tộc có lịch sử lâu đời và oanh liệt đến thế". Rồi anh ta cười hóm hỉnh: "Ít nhất đến đây chúng tôi cũng được an ủi vì nước Mỹ chúng tôi không phải là nước đầu tiên thua Việt Nam". Vào xem Bảo tàng Mỹ thuật, một thiếu tá không quân nói: "Nước các ông còn nghèo về vật chất, song tài sản tinh thần, kho tàng văn hóa nghệ thuật thì thật giàu có vô cùng".

Trại còn giúp cho các tù binh Mỹ tự làm báo, ra tờ tạp chí do họ đặt tên: "Đường băng mới" (The New Runway). Họ chia nhau viết bài với đủ loại thơ ca, tường thuật, bình luận, vẽ tranh châm biếm và phân công nhau trình bày, trang trí. Tranh châm biếm bọn họ thường vẽ là hình ảnh méo mó của những vị tai to mặt lớn của chính quyền và quân đội Mỹ với những lời chú thích hết sức chua cay.

Trong trại giam có hai viên đại úy không quân chơi với nhau rất thân. Cả hai đã từng là giáo viên âm nhạc trước khi chuyển sang nghề bay. Đó là Giôn Cô-lin có giọng hát hay và khỏe và Uy-liêm Pớc-kin, chuyên đệm đàn phong cầm cho Cô-lin và các bạn cũng hát trong những giờ sinh hoạt. Vào những dịp lễ Giáng sinh, Ban chỉ huy trại đã cho chăng đèn kết hoa rực rỡ, có ông già và cây thông Nô-en, có cả Chúa hài đồng nằm trong máng cỏ, để cho các tù binh Mỹ được chúc mừng năm mới và cầu Chúa ban phước lành. Trong bữa ăn Nô-en, bọn họ còn được thường thức mỗi người một đĩa thịt ngỗng quay (zxc Thịt ngỗng quay (roast goose) món ăn truyền thống của người Mỹ trong dịp mừng Chúa giáng sinh.) truyền thống của dân Mỹ. Điều đó đã khiến họ rất ngạc nhiên và thú vị. Về sau, chúng tôi được biết đây là theo chỉ thị của Chủ tịch Hố Chí Minh. Từng đi nhiều nơi trên thế giới, am hiểu phong tục tập quán của nhiều nước, nhiều dân tộc, cộng với lòng nhân ái sâu sắc Bác Hồ rất quan tâm nhắc nhở cán bộ ta phải luôn luôn đối xử tử tế với tù binh.

Đại úy Noóc-len Đô-tơ-ri, lái F105D, bị thương nặng cả hai tay, đáng lẽ phải cưa bỏ, nhưng các bác sĩ Việt Nam đã giúp cho đôi tay của anh ta trở lại lành lặn bình thường. Giờ đây, chính anh đã có thể dùng bàn tay khéo léo của mình để cắt những hình trang trí (chim bồ câu, thánh thần, tiên nữ...). Anh ta vui vẻ nói: "Tôi mãi mãi ghi sâu trong trái tim mình tấm lòng cao quý của các bác sĩ và y tá Việt Nam. Người Việt Nam các ông có đủ tất cả các đức tính mà các dân tộc khác phải khâm phục".

 

Có một đại úy phi công của Hải quân Mỹ khi mới vào trại giam tỏ ra rất kiêu căng. Thái độ kiêu ngạo của những phi công Mỹ, xét cho cùng, cũng là điều hợp lô-gích. Họ là phi công của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đất nước hùng mạnh nhất thế giới, là những vị con trời, cứu tinh cho một quốc gia nhỏ bé (Việt Nam Cộng hòa) đang bị "Cộng sản Bắc Việt xâm lăng". Hơn nữa, không giống những người lính bộ binh dưới mặt đất chuyên làm nhiệm vụ bắn giết, họ bay trên trời cao, tiến hành một cuộc "chiến tranh sạch sẽ", bằng những ngón tay ấn nút, nhẹ nhàng như bấm một cây bút bi. Bom rơi, người chết, họ không nhìn thấy. Trong quân đội Mỹ, họ thuộc hàng những kiêu binh, những người lính "quí tộc”. Mặc dầu đã vào trại Hỏa Lò, một số không ít phi công tù binh Mỹ vẫn còn mang tâm lý đó. Gặp cán bộ ta, một phi công không chịu chào: "Tôi không biết chào người Việt Nam. Ở Sài Gòn, nếu gặp tôi, Nguyễn Cao Kỳ (zxc Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn trước đây.) phải chào tôi trước đấy". Thế mà sau đó, qua những điều được giảng giải và tai nghe mắt thấy trong trại giam, anh ta dần dần thay đổi thái độ. Từ đó, gặp ai anh cũng vui vẻ chào.

Một đại úy không quân nói: "Ồ! Chỉ huy Trại cũng gánh nước tưới rau, cũng đánh bóng chuyền, chơi vật cùng chiến sĩ. Ở quân đội Mỹ làm gì có chuyện đó . Anh ta đặc biệt xúc động khi nhìn thấy các chị cấp dưỡng nhỏ bé, với mấy chiếc xe đạp cũ kĩ mà vẫn bảo đảm cho mọi bữa ăn của họ luôn luôn được kịp thời, chu đáo.

Một thiếu tá không quân khi được phỏng vấn: "Vào đây anh có bị tra tấn, hành hạ gì không" đã trả lời: "Ở Mỹ, tôi và các bạn tôi đã qua hai tuần lễ huấn luyện ở "Trường tự cứu". Mỉa mai thay! Những điều được học ở trường và cuốn sách "Hướng dẫn tự cứu chẳng giúp ích gì cho tôi cả, bởi vì, khi vừa nhảy dù xuống đất, chúng tôi đã thấy ngay các bà, các ông bao vây xung quanh. Vừa nghe họ hô to hai tiếng “hen xấp (zxc Hands up: Giơ tay lên!)?" là chúng tôi đã: phải vội vã đưa hai tay lên trời. Điều mỉa mai hơn hết là khi còn học ở trường, chúng tôi đã bị những người đóng giả Việt cộng đánh cho khá đau, dù là đánh giả, nhưng ở trong trại này điều đó không hề xảy ra. Cái hòm tra điện duy nhất và những chiếc roi gân bò mà tôi được nhìn thấy lại chính là ở "Trường tự cứu bên Hoa Kỳ (zxc Những dẫn chứng về các phi công Mỹ trên đây trích từ báo Quân đội nhân dân, các số ra ngày 2-8 đến 15-8-1969, trong bài phóng sự nhiều kỳ: "Những bằng chứng biết nói".)”

Đối với tù binh Mỹ, chúng ta đã dành cho họ sự đối xử tốt như vậy, tuy nhiên có một điều là chúng ta không cho họ có quyền bắt tay chúng ta. Một trung tá không quân nói: "Các ông sẵn sàng tha thứ tất cả, duy chỉ có cái bắt tay... Lúc đầu chúng tôi rất tự ái. Không ngờ bàn tay của chúng tôi lại bị các ông căm giận và khinh bỉ đến thế. Nhưng về sau chúng tôi đã nhận ra: một sự căm giận và khinh bỉ rất dễ hiểu. Các ông không bắt tay, nhưng đối xử với chúng tôi vẫn hết sức độ lượng".

Gần đây ông Chuck Searcy, một cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, về sau làm Giám đốc điều hành Hội luật gia của bang Georgia, trong một chuyến sang thăm Việt Nam đã nói với các phóng viên: "Ban đầu chúng tôi rất e ngại. Nhưng qua tiếp xúc, chúng tôi vô cùng cảm kích trước thái độ rộng lượng của người Việt Nam. Sang đây chúng tôi cảm thấy được tha thứ và được sống trong sự ấm áp của tình người".

Thái độ đối xử độ lượng, khoan hồng của người Việt Nam chúng ta ở mọi thời đại luôn luôn ngời sáng một chủ nghĩa nhân văn cao cả: "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam là như thế.

Ai đó muốn làm cho nhân dân Mỹ hiểu sai về thái độ nhân đạo của Việt Nam, hãy đọc kỹ lời đánh giá sau đây của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra: "Thất bại của Mỹ ở Việt Nam phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa của dân tộc này"(zxc Sách đã dẫn: "Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam" của Mắc Na-ma-ra.)

Thiết nghĩ, có thể coi đây là lời đáp chí lí cho những ai cố tình xuyên tạc sự thật.


Nguồn: "Điện Biên Phủ trên không" - chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam - Tác giả : Lưu Trọng Lân, nguyên là Phó trưởng phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép

Lịch sử việt nam 7

Thiếu niên Trần Hạo Nam

Tiếu ngạo giang hồ