TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Hỏi đáp các vấn đề Lịch Sử


CÂU HỎI VÀ CÂU TRẢ LỜI
Câu hỏi: Câu hỏi 29: Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" có ý nghĩa thế nào đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam?
Trả lời:

Đáp: Chúng ta còn nhớ: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đã làm rung chuyển Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, cùng với thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc đến vĩ tuyến thứ 20 và chấp nhận cùng ta ngôi vào bàn thương lượng ở Pa-ri. Giôn-xơn đã phải tuyên bố không ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ sau đó.

Sang năm 1971, chiến thắng oanh liệt Đường 9 - Nam Lào, tiếp theo là chiến thắng to lớn của cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam năm 1972 đã giáng những đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Mỹ Ních-xơn, dẫn nó đến nguy cơ sụp đổ hoàn toàn.

Thất bại trên chiến trường đã buộc Mỹ phải thỏa thuận với ta về việc ký kết một hiệp định chấm dứt chiến tranh vào tháng 10 năm 1972. Nhưng rồi như phần trên đã nói, Mỹ nuốt lời hứa, không chịu ký kết như đã thỏa thuận và đưa B52 đến ném bom Hà Nội.

Thì ra, những thất bại vừa qua trên chiến trường miền Nam, dù là rất nặng nề, cũng vẫn chưa đủ để làm nguội cái đầu nóng của viên tổng thống cuồng chiến Mỹ. Ních-xơn không muốn chịu thua trong khi trong tay ông ta còn có một con bài nặng ký: B52.

Khi ra lệnh cho máy bay B52 bay vào Hà Nội, Ních-xơn hoàn toàn tin tường vào sự thành công của chiến dịch ném bom. Ông ta khấp khởi mừng thầm và tràn đầy hi vọng. Hệ thống Phòng không của Bắc Việt chắc chắn sẽ bị nhiễu điện tử của Không quân Mỹ làm tê liệt. Sau cú "sốc ào ạt" của những đợt bom "rải thảm”, quá lắm là ba hoặc bốn ngày, Hà Nội phải sụp đổ. Trong thế thượng phong, phái đoàn Kít-xinh-giơ sẽ bắt phái đoàn Bắc Việt phải cúi đầu. Một số phi công tù binh Mỹ sẽ được trở về với gia đình trước đêm Giáng sinh. Cùng với việc con tàu A-pô-lô 17 (Apollo 17) chở ba nhà du hành vũ trụ Mỹ từ mặt trăng quay trở về Trái đất, chiến thắng của cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II sẽ đưa Ních-xơn lên vị thế tột cùng của đỉnh vinh quang. Ních-xơn sẽ là vị tổng thống đáng kính chủ trì lễ kỷ niệm 200 năm thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và hóa thân trở thành một vĩ nhân trước mắt toàn nhân loại.

Sung sướng như mở cờ trong bụng, Ních-xơn yên tâm cùng vợ lên đường đi nghỉ mát ở Ki-bi-scây-nơ bang Phờ-lo-ri-đa (Florida). Tại đó, ông ta xoa tay chờ tin thắng trận.

Bỗng nhiên, tin như sét đánh ngang tai, ngay trong đêm 18 tháng 12, ông ta nhận được báo cáo: "1 chiếc, 2 chiếc, rồi 3 chiếc B52 không trở về căn cứ". Cơn hoảng hốt của Ních-xơn cứ dồn dập và kéo dài mãi trong những ngày đêm tiếp theo. Hóa ra hệ thống phòng không Bắc Việt không bị vô hiệu hóa. B52 Mỹ cứ bị SAM2 của Bắc Việt liên tiếp bắn rơi. Mấy ngày qua, ông không hề nhận được bất cứ một tín hiệu nào gọi là yếu mềm từ phía Hà Nội cả. Qua rồi đêm Giáng sinh mà ông đặt biết bao kỳ vọng sẽ là một đêm tưng bừng khắp nước Mỹ. Tin con tàu A-pô-lô 17 cùng 3 nhà du hành vũ trụ an toàn trở về trái đất, thành tựu kỳ diệu của loài người, bị chìm đi trong chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Cuối cùng trong tâm trạng bi quan đến cùng cực, Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt ném bom vào lúc 24 giờ, đêm 29 tháng 12.

Kẻ run sợ không phải là người Việt Nam, kẻ bị đè bẹp không phải là Hà Nội. Kẻ trở lại bàn đàm phán trong tư thế chiến bại không phải là phái đoàn Bắc Việt mà chính là phái đoàn Mỹ. Thất bại trong cuộc ném bom man rợ, không còn con bài nào khác để ép ta (sử dụng bom nguyên tử thì Mỹ không dám), không còn cách nào nữa để chối bỏ những đề nghị của Việt Nam, cuối cùng trong cuộc tái họp ở Pa-ri, phía Mỹ đã phải hạ giọng, chấp nhận mọi yêu cầu cơ bản của phái đoàn ta.

 

Kít-xinh-giơ kể lại trong cuốn hồi ký của mình: "Trước khi tôi lên đường trở lại Pa-ri ngày 6 tháng 1 năm 1973, Ních-xơn dặn tôi: Cho dù điều kiện của đối phương đưa ra thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải chấp nhận một giải pháp. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận trở lại những điều khoản của văn bản hiệp định tháng 10”.

Vậy là sau thất bại của "đợt ném bom Nô-en" vào Hà Nội và trước làn sóng phẫn nộ của nhân dân Mỹ và nhân dân toàn thế giới, cái đầu nóng của Ních-xơn đã nguội đi nhanh chóng như thế đó.

Theo văn bản ký tắt giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn Kít-xinh-giơ lúc 12 giờ 45 ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Trung tâm hội nghị quốc tế trên đại lộ Cơ-lê-be (Kléber), cũng như theo tinh thần Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được các Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973, Chính phủ Hoa Kỳ đã phải:

- Cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

- Cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước.

- Công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, công nhận trên thực tế ở miền Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát.

- Hai bên thả tù binh và dân thường bị bắt.

Nhưng cay đắng hơn cả là Mỹ đã phải chấp nhận một sự nhượng bộ cực kỳ bi thảm, sự nhượng bộ mà tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đã hoảng hốt kêu lên: "Nó đe dọa sự sống còn của chế độ Việt Nam Cộng hòa". Trong khi quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ phải rút hết, thì quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam Việt Nam.

Các quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng của nhân dân ta đã được ghi đầy đủ ở chương I của Hiệp định Pa-ri (zxc Ngày 8-2-1973, trong chuyến sang Hà Nội, Kít-xinh-giơ có đến thăm Viện Bảo tàng Lịch sử. Khi được nghe giới thiệu Lời hịch của Lý Thường Kiệt khắc trên bia đá:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư...


Kít-xinh-giơ bỗng giật mình, buột miệng thốt lên: Đây chính là điều I của Hiệp định Pa-ri ).

Còn quyền "Quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam" lại được thể hiện ở chương II. Chương II ở điểm 5 ghi rõ: "Mỹ và các nước phe Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày mà không hề có một câu chữ nào nói đến việc "Hà Nội phải cùng rút quân"

Đây là một trong những vấn đề gay cấn nhất, quyết liệt nhất trên bàn hội nghị ở Pa-ri trong suốt mấy năm qua và đó cũng là một trong những điều cốt lõi nhất, mấu chốt nhất trong thắng lợi tuyệt vời của chúng ta trên mặt trận ngoại giao, thắng lợi bắt nguồn từ chiến thắng quyết định trên chiến trường.

Trong nhiều phiên họp, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn luôn đưa ra luận điệu: Bắc Việt xâm lược Việt Nam Cộng hòa, vì vậy Bắc Việt phải rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa.

Phái đoàn ta đã phải liên tục đấu tranh không khoan nhượng chống lại luận điệu này của đối phương: Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, phá tổng tuyển cử thống nhất đất nước, dựng lên chính quyền tay sai, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Mỹ đã sử dụng quân đội Sài Gòn, cùng cố vấn quân sự Mỹ tiến hành từ chiến tranh đơn phương đến chiến tranh đặc biệt, sau đó trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ, rồi mở rộng chiến tranh ra cả nước Việt Nam. Chính Mỹ là kẻ xâm lược, còn chính quyền Sài Gòn chỉ là công cụ của Mỹ.

 

Làm sao Mỹ có thể bào chữa được sự có mặt ở miền Nam Việt Nam một quân đội viễn chinh gồm cả quân Mỹ và quân các nước phe Mỹ, đông hơn 60 vạn người, cả Hải, Lục, Không quân, với khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh khổng lồ, cùng với 1 triệu lính quân đội tay sai, hàng ngày, hàng giờ tàn sát nhân dân Việt Nam?

Làm sao phái đoàn Mỹ và phái đoàn chính quyền Sài Gòn che giấu được bộ mặt thật của những kẻ đã rước quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, khiến nhân dân miền Nam phải đứng dậy, kết hợp với những người anh em ruột thịt miền Bắc chống kẻ thù chung?

Truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam là: ở đâu có giặc ngoại xâm, ở đó có người Việt Nam cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước. Mỹ xâm lược thì Mỹ phải rút quân. Còn lực lượng vũ trang cách mạng: Quân Giải phóng miền Nam, gồm cán bộ, chiến sĩ của cả hai miền Nam, Bắc thì hoàn toàn có quyền đứng chân trên mọi vùng đất của Tổ quốc mình để chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Đó là chân lý không thể nào chối cãi được.

Còn nhớ tại một cuộc họp với nhóm CP50, cơ quan chuyên trách theo dõi tình hình và giúp Bộ Chính trị chỉ đạo hai phái đoàn ta ở cuộc hội đàm Pa-ri, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã truyền đạt một ý kiến quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Lê Quẩn: "Dứt khoát quân miền Bắc không rút đi đâu hết? Tuyệt đối không có vấn đề tập kết rút quân như hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954” (zxc Nguyễn Thị Bình và tập thể tác giả - Mặt trận Dân tộc giải phóng – Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam - Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội - 2001.)

Trong một bức điện của Bộ Chính trị gửi cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngày 9 tháng 12 năm 1972 có 5 ý kiến chỉ đạo, thì điều đầu tiên là: "Kiên quyết chống việc Mỹ đòi ghi vào hiệp định việc rút quân miền Bắc ra khỏi miền Nam (zxc )
Cảm ơn các anh các chị của hai Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã bền bỉ đấu tranh.trong suốt 4 năm trời, từ 29 tháng 1 năm 1969 đến 27 tháng 1 năm 1973, tại Thủ đô nước Pháp, trong suốt 174 phiên họp cực kỳ căng thẳng, để có được thắng lợi to lớn ngày hôm nay (zxc Ngoài ra, còn có 24 cuộc họp kín ở cấp cao.).

Một khi quân Mỹ rút hết, còn Quân Giải phóng vẫn ở lại miền Nam, so sánh lực lượng trên chiến trường sẽ thay đổi hết sức có lợi cho ta. Trước đây, ta ở thế 1 chọi 2, tức là cùng một lúc ta phải đương đầu với cả Mỹ lẫn ngụy. Bây giờ thế trận trở thành 1 chọi 1. Đứng trước quân đội và nhân dân cả nước ta, nay chỉ còn lại quân đội và chính quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ biết như thế, rất đau, nhưng chẳng có cách gì đảo ngược được thế cờ.

"Quân đội Mỹ rút hết" được đánh dấu bằng sự kiện đáng ghi nhớ, tướng Uây-en (F. Weyand) tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ và những người lính Mỹ cuối cùng bước lên máy bay, rời Gia Lâm và Tân Sơn Nhất ngày 29 tháng 3 năm 1973.

Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản chỉ có thế!

Quân đội Mỹ buộc phải rút hết thực sự là việc chấm dứt hoàn toàn trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam sự có mặt của một đội quân khét tiếng tàn bạo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đông hàng chục vạn tên, mà lúc cao nhất lên tới 536.000 tên (1968), chưa kể 69.000 quân nhân các nước phụ thuộc, với các sư đoàn bộ binh, kỵ binh bay, thủy quân lục chiến Mỹ và các sư đoàn, trung đoàn mang tên Mãnh Hổ, Rồng Xanh, Ngựa Trắng, Báo Đen, Hổ Mang. . . của Đại Hàn và Vương quốc Thái Lan (zxc Gần đây, tạp chí Hàn Quốc Hankyoreh, qua hàng loạt phóng sự của nữ phóng viên Ku Su Jeong đã công bố những tội ác của binh lính Hàn Quốc trước đây ở Việt Nam, đồng thời cũng nói lên sự ân hận và tấm lòng hiện nay của nhiều cựu binh sĩ Hàn Quốc mong được nhân dân Việt Nam thông cảm và tha thứ.), với hình ảnh những đoàn xe tăng, xe bọc thép, những đàn máy bay trực thăng vũ trang, như những bầy dã thú điên loạn, ào ạt tràn vào các làng mạc miền Nam, thả sức càn quét, tàn phá, giết chóc.

 

Trên vùng biển tổ quốc Việt Nam sẽ không còn Hạm đội 7 lởn vởn ngoài khơi, với những tàu sân bay hiện đại, căn cứ xuất phát của hàng trăm máy bay chiến thuật của Hải quân, với những đoàn tàu chiến Mỹ ngược xuôi ngang nhiên khống chế tàu thuyền ta, rải mìn, phong tỏa các cửa sông, bến cảng, hoặc thường xuyên nã pháo vào đất liền.

Trên bầu trời của hài miền Nam Bắc sẽ không còn bóng dáng những "Thần Sấm", "Con Ma". . . cùng những pháo đài bay chiến lược khổng lồ ngày đêm trút bom đạn lên đầu nhân dân ta nữa.

Và một khi đội quân "sát thủ" ấy cút hết, cách mạng Việt Nam vợi đi biết bao khó khăn gian khổ, giống như trút được một gánh nặng ngàn cân. Có thể đưa ra một thí dụ: Sau ngày ngừng bắn, ở trên đường Trường Sơn (đường Hồ Chí Minh), không còn nữa những chiếc “Thần lực sĩ" (Hercules AC130) đêm đêm vòng lượn, đánh chặn đoàn xe ta trên các trọng điểm, cũng không còn nữa những đợt ném bom "rải thảm" rung chuyển núi rừng của lũ pháo đài bay B52, trong khi không quân ngụy không đủ sức vươn tới, đúng hơn là không dám bén mảng tới, bộ đội đường Trường Sơn đã tận dụng thời cơ, nhanh chóng phát triển, mở rộng hàng loạt hệ thống đường vận chuyển, giống như những đại lộ tiếp cận các chiến trường, để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 giành toàn thắng.

Tóm lại, việc "quân đội Mỹ rút hết" đã đưa đến cho nhân dân ta một thuận lợi cực kỳ to lớn.

Còn việc "quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam có ý nghĩa ra sao?

"Quân đội Bắc Việt ở lại" cũng có nghĩa là bộ đội ta không phải làm cái chuyện "tập kết" như sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ (Genève) năm 1954. Đặt giả thuyết: nếu trong chiến dịch cuối tháng 12 năm ấy ta thua Mỹ; pháo đài bay B52 Mỹ đè bẹp chúng ta; trên bàn thương lượng ở Pa-ri phái đoàn ta phải chấp nhận mọi điều thua thiệt, trong đó có điều khoản bộ đội ta ở miền Nam (lúc đó có gần 15 vạn cán bộ chiến sĩ) phải mang theo toàn bộ súng ống, đạn dược, xe tăng, pháo mặt đất, pháo cao xạ, xe lớn xe nhỏ kéo nhau ra Bắc, thì tình hình sau đó ở miền Nam sẽ diễn biến ra sao?

Tuy quân Mỹ rút hết, nhưng lực lượng Quân đội Việt Nam Cộng hòa của Nguyễn Văn Thiệu đã được Mỹ tăng cường tới mức tối đa, với tổng quân số lên tới 1,1 triệu người, có đầy đủ các quân, binh chủng hiện đại, được trang bị vũ khí của Mỹ đến tận răng. Sử gia Ga-bri-en Côn-câu (Gabriel Kolko) đã nhận xét: "Quân đội Sài Gòn có tới 1.400 trọng pháo, 1.800 xe tăng, 1.400 máy bay các loại. Không quân của Thiệu được xếp vào hàng thứ tư thế giới về qui mô. Lực lượng máy bay lên thẳng của họ được đánh giá là một trong những phi đoàn có số lượng lớn nhất, đắt tiền nhất và hiện đại nhất thế giới (zxc Gabiel Kolko: Anatomy of a war, Nxb Pantheon Book, New York, 1985).

Đó là chưa kể hàng triệu tay súng bán vũ trang và một đội quân cảnh sát gồm 15 vạn người, với nhiều tên khét tiếng ác ôn, nằm trong một bộ máy kìm kẹp, đàn áp cực kỳ tàn bạo.

Và nếu trong hoàn cảnh đó, cuộc chiến đấu gần như tay không của đồng bào ta ở miền Nam sẽ lâm vào tình thế bất lợi và sẽ gặp phải khó khăn to lớn biết nhường nào? Cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất của dân tộc ta sẽ còn phải kéo dài trong thời gian bao nhiêu lâu nữa?

Mặc dầu trên đây chỉ là giả thuyết, như một phản đề trong biện luận, nhưng nó cũng giúp ta nhìn nhận được rõ hơn ý nghĩa đặc biệt của thắng lợi to lớn này.

Cố vấn Lê Đức Thọ sau khi từ Pa-ri trở về, vừa xuống máy bay đã đến ngay một trận địa tên lửa thăm các chiến sĩ Sư đoàn Phòng không B61. Khi nghe Chính ủy Sư đoàn Trần Văn Giang phát biểu lời chúc mừng "vị lão tướng chiến thắng trên mặt trận Ngoại giao", ông Lê Đức Thọ liền xua tay nói: "Không! Không dám! Người chiến thắng chính là các đồng chí, những cán bộ chiến sĩ Phòng không - Không quân anh hùng. Không có "Chiến thắng B52 của các đồng chí làm sao có chiến thắng ở Hội nghị Pa-ri. Cảm ơn! Cảm ơn tất cả cán bộ chiến sĩ của Sư đoàn Phòng không Hà Nội"

 

Sau đây xin dẫn lời của Giáo sư Oen-đơn Ê-brao( Weldon A Brown ) đánh giá thực chất sự nhượng bộ đau đớn của Mỹ trong việc ký Hiệp định Pa-ri như sau:

"Thất bại trên bầu trời Hà Nội đã buộc chúng ta phải từ bỏ yêu sách đòi "Hà Nội cùng rút quân"..."Đối với Hà Nội, Hiệp định Pa-ri không có gì quan trọng hơn là họ đã đuổi được quân Mỹ ra khỏi đất nước họ, còn Mỹ thì không đuổi được quân đội của họ ra khỏi Việt Nam cộng hoà:

Giải pháp Pa-ri là dấu hiệu của việc Mỹ đánh bài chuồn khỏi Việt Nam (lúc này Mỹ còn 23.000 quân) và để cho quân Bắc Việt (lúc đó có 145.000 người) tiếp tục đóng rải ra khắp lãnh thổ Nam Việt..."

Đa số người Mỹ nhận thấy rằng Hiệp định ngày 27 tháng giêng năm 1973 chẳng có gì hơn so với những điều đã được thỏa thuận ngày 8 tháng 10 năm ngoái

Trong cuốn sách "Hoa Kỳ ở Việt Nam", giáo sư Guenter Lewi có đoạn viết: "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II đã không thể vắt ra được một nhượng bộ quyết định nào của phía Hà Nội".

Còn nhà báo nổi tiếng Các-nâu (Stanley Karnow) đánh giá: "Dưới góc độ một công cụ ngoại giao, cuộc tập kích vào Hà Nội dịp Nô-en đã tỏ ra là thừa".

Phóng viên tạp chí Tim của Mỹ, Sớc-tơ (Jerrold Li. Schecter) trong cuốn "Từ Tòa Bạch ốc đến Dinh Độc Lập" nhận xét một cách chua xót: "Những điều khoản trong hiệp định Pa-ri về thực chất vẫn giống như những điều mà phía Cộng sản đã đưa ra từ tháng 5 năm 1969 (zxc Nghĩa là từ khi có cuộc họp bốn bên ở Pa-ri.)... "Mỹ là nước đã chiến thắng lẫy lừng trong thế chiến thứ hai, là quốc gia mạnh nhất thế giới, là kẻ thắng đậm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1953. Vậy mà đúng 20 năm sau, họ phải chấp nhận thất bại nặng nề trước Bắc Việt, một quốc gia nhỏ bé, chỉ có 22 triệu dân và không có một nền công nghiệp nào cả . . . Ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã không duy trì được một lực lượng quân đội nào ở lại miền Nam như họ đã từng thực hiện ở châu Âu và Triều Tiên". Ở Triều Tiên sau hội nghị Bàn Môn Điếm, 60 vạn quân Mỹ đã ở lại, còn đất nước TriềuTiên thì vẫn phải chia thành hai quốc gia (theo ý đồ của Mỹ).

Tạp chí "Không lực Hoa Kỳ” cũng đắng cay thừa nhận: "B52 được tung ra với số lượng chưa từng có, để cuối cùng Tổng thống phải chấp nhận một kết cục bi thảm chưa từng thấy".

Còn đối với chúng ta, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" có một ý nghĩa vô cùng trọng đại:

Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá: "Thắng lợi to lớn của tuộc tiến công chiến lược năm 1972 của ta đã làm thay đổi cục diện chiến trường ở miền Nam, cùng với việc đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ ở miền Bắc, ta đã đạt mục tiêu giành thắng lợi quyết định (zxc Sách "Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi và bài học", Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1996.).

Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn ca ngợi: "Điện Biên Phủ trên không" là "chiến công mang tầm vóc thời đại, là một trong những đỉnh cao chiến công trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam anh hùng và tên đế  quốc đầu sỏ Hoa Kỳ".
Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Đây là thắng lợi to lớn nhất, chiến công xuất sắc nhất của cuộc chiến tranh nhân dân trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ... Quân dân Hà Nội, quân dân miền Bắc anh hùng đã đập tan cuộc tập kích chiến lược của Không quân Mỹ, lập nên một "Điện Biên phủ trên không" oanh liệt, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hiệp định Pa-ri” .

Và rõ ràng như Bác Hồ đã từng dự đoán: "ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Chiến thắng "Điện Biên phủ trên không" đã buộc Mỹ phải chấp nhận thêm cuộc thua trên bàn đàm phán ở Pa-ri sau đó 1 tháng 25 ngày.

Sự kiện "Mỹ cút" còn "Quân chủ lực Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam do Hiệp định Pa-ri quy định, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hoàn toàn lô-gích của hai năm sau đó, dẫn tới kết quả tất yếu "ngụy nhào" vào mùa xuân năm 1975. Nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm.


Nguồn: "Điện Biên Phủ trên không" - chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam - Tác giả : Lưu Trọng Lân, nguyên là Phó trưởng phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép

Lịch sử việt nam 7

Thiếu niên Trần Hạo Nam

Tiếu ngạo giang hồ