TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ


Đếm lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Hỏi đáp các vấn đề Lịch Sử


CÂU HỎI VÀ CÂU TRẢ LỜI
Câu hỏi: Các danh hiệu của vua chúa ngày xưa
Trả lời:

Nói đến “Quang Trung”, ai cũng biết đó là vị anh hùng dân tộc đã đánh thắng giặc Xiêm, giặc Tàu, "giúp dân dựng nước xiết bao công trình"; nhưng khi nói đến “Thái Tổ Võ hoàng đế”, có lẽ sẽ có nhiều người không hình dung được đó là nhân vật lịch sử nào. Thực ra, Quang Trung và Thái Tổ Võ hoàng đế chỉ là một. Để làm sáng tỏ hơn vấn đề này, chúng tôi giới thiệu cùng các bạn về các danh hiệu của vua chúa ngày xưa.

Vua chúa ngày xưa thường có các danh hiệu: Niên hiệu, miếu hiệu, thánh thụy, tên húy và miếu húy.

Niên hiệu:

Niên hiệu là tên hiệu của một ông vua đặt ra để tính năm trong thời gian trị vì của mình.

Niên hiệu là tên hiệu của một ông vua đặt ra để tính năm trong thời gian trị vì của mình. Chẳng hạn vua Minh Mệnh trị vì trong khoảng thời gian từ 1820 đến 1840; năm 1820 được tính là Minh Mệnh năm thứ nhất, 1821 là Minh Mệnh năm thứ hai, 1830 là Minh Mệnh năm thứ mười một,…

Một ông vua có thể có một hoặc nhiều niên hiệu.

Trong lịch sử Việt Nam, vua có nhiều niên hiệu nhất là Lý Nhân Tông (1072 – 1127) có tất cả 8 niên hiệu. Đó là Thái Ninh (1072 – 1076), Anh Vũ Chiêu Thắng (1076 – 1084), Quảng Hựu (1085 – 1092), Hội Phong (1092 – 1100), Long Phù (1101 – 1109), Hội Tường Đại Khánh (1110 – 1119), Thiên Phù Duệ Vũ (1120 – 1126), Thiên Phù Khánh Thọ (1127).

Các vua triều Nguyễn dù trị vì trong thời gian dài hay ngắn đều chỉ lấy một niên hiệu: Gia Long (1802 – 1819), Minh Mệnh (1820 – 1840), Thiệu Trị (1841 – 1847), Tự Đức (1848 – 1883),…

Ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ lên ngôi, đặt niên hiệu là Quang Trung. Do đó, năm 1788 được tính là Quang Trung năm thứ nhất, 1789 là Quang Trung năm thứ hai, 1790 là Quang Trung năm thứ ba,…

 

Miếu hiệu:

Miếu hiệu là tên hiệu mà một ông vua mới lên ngôi đặt cho ông vua vừa băng hà để thờ cúng.

Miếu hiệu là tên hiệu mà một ông vua mới lên ngôi đặt cho ông vua vừa băng hà để thờ cúng.

Ví dụ vua Lý Công Uẩn có miếu hiệu là (Lý) Thái Tổ, vua Lê Lợi có miếu hiệu là (Lê) Thái Tổ, vua Lê Tư Thành có miếu hiệu là (Lê) Thánh Tông, vua Nguyễn Phúc Thì (Tự Đức) có miếu hiệu là (Nguyễn) Dực Tông, vua Nguyễn Huệ (Quang Trung) có miếu hiệu là (Nguyễn) Thái Tổ,…

Các nhà sử học thường gọi các vua nhà Lý, Trần, Lê bằng họ và miếu hiệu (ví dụ như Lý_ Thái Tổ, Trần_ Nhân Tông, Lê_ Thánh Tông,…) vì các vua này có nhiều niên hiệu, còn các vua triều Nguyễn thường được gọi bằng niên hiệu (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, …) vì mỗi vua chỉ có một niên hiệu. Gọi bằng niên hiệu dễ nhớ hơn vì nó gắn với thời gian các sự kiện lịch sử.


Thánh thụy:

Thánh thụy là tên thụy của vua chúa.

Thánh thụy là tên thụy của vua chúa.

Tên thụy là tên do những người còn sống đặt cho một người đã từ trần dựa theo hạnh kiểm, hành vi của người ấy lúc còn sống. Đôi khi, người còn sống cũng tự đặt tên thụy cho mình.

Để tôn vinh các tôn vương, con cháu thường ghép miếu hiệu với thánh thụy. Chẳng hạn như Thế Tổ Cao hoàng đế (Gia Long), Thánh Tổ Nhân hoàng đế (Minh Mệnh), Dực Tông Anh hoàng đế (Tự Đức), Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế (Nguyễn Hoàng), Thái Tổ Võ hoàng đế (Quang Trung),…

 

Tên húy và miếu húy:

Miếu húy là tên húy của ông vua đã băng hà.

Tên húy là tên do cha mẹ đặt từ thuở nhỏ, sau khi trưởng thành, thường được thay bằng tên khác và kiêng không nhắc đến theo tục lệ cũ.

Tên húy thường được dùng cho vua chúa, quan lại, thần thánh, ông bà cô bác, thầy giáo,… Gặp tên húy, mọi người phải nói và viết chệch đi. Người có tên trùng với tên húy của vua chúa, ông bà,… thì phải đổi. Ai không tuân thủ thì bị bắt tội và quở trách. Điều LXII luật Gia Long có định rằng: “Kẻ nào, trong một bản viết hay trình gì với vua mà đã dùng một tiếng trùng với tên vua hay tên một hoàng khảo sẽ bị phạt 80 trượng".

Vua Tự Đức có tên húy là "Thì" (Nguyễn Phúc Thì) nên từ "thì" phải viết thành "thời" (thì giờ à thời giờ; Ngô Thì Nhậm à Ngô Thời Nhiệm,…). Vua Duy Tân có tên húy là Vĩnh San nên Phan Văn San phải đổi thành Phan Bội Châu.

Vì kiêng húy, trong tiếng Việt có hàng loạt từ bị nói và viết chệch đi: chu à châu, hằng à thường, hoa à huê, hoàng à huỳnh, vũ à võ, mệnh à mạng, phúc à phước, nhậm à nhiệm, tông à tôn,…

Hy vọng những thông tin trong bài viết này sẽ giúp các bạn cảm thấy yêu thích hơn môn lịch sử!

 

(Theo Lê Trung Hoa - Họ và tên người Việt Nam)

: : HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

: : TÌM KIẾM

: : NHÀ TÀI TRỢ CHÍNH


Đại học Quốc Gia TP.HCM
Thư Viện Trung Tâm
Nhà cung cấp dữ liệu


Sở văn hóa thông tin TP.HCM
Tổ Chức Cấp Phép


Bộ thông tin và truyền thông
Tổ Chức Cấp Phép

Lịch sử việt nam 7

Thiếu niên Trần Hạo Nam

Tiếu ngạo giang hồ